KÝ SINH TRÙNG TRONG CƠ THỂ NGƯỜI- PHÒNG TRÁNH
Trên cơ thể chúng ta có hàng tỷ ký sinh trùng vô cùng đa dạng sinh sống trong cơ thể: như các loại vi khuẩn, virus, giun sán, ve bét, chấy rận. Và một số loại nấm ký sinh.
Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào có cấu trúc đơn giản và kích thước rất nhỏ, từ 0,2 đến 5 micromet và có thể quan sát được bằng kính hiển vi quang học. Vi khuẩn sinh sản qua quá trình phân chia, nhân đôi tế bào một cách độc lập. Ngược lại, virus cực kỳ nhỏ, dao động từ 0,02 đến 0,3 micromet, chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi điện tử.
Vi khuẩn tồn tại ở khắp mọi nơi, trên da, đường hô hấp, tiêu hóa, sinh dục, đường tiết niệu. Chúng có thể gây ra nhiều tác hại nguy hiểm đối với sức khỏe con người.
Loại vi khuẩn sinh sống trên da, mỗi cm2 da có khỏang 12 triệu vi khuẩn sinh sống. Mỗi người có 1,9m2 da, chứa quần thể trên 100 tỷ vi khuẩn, sinh sống trên da. Vùng tai mũi, khoeo chân và tay, cẳng tay là nơi hội tụ vi khuẩn đa dạng nhất với 44 loài, tai chỉ có 19 loài. Tập trung nhiều ở những vùng da ẩm ướt: trong cánh mũi, nách, mí mắt, kẽ ngón tay, nơi đeo nhẫn, khuỷu gối, rốn, gan bàn chân, gan bàn tay, khu cấm địa, vùng da khô cánh tay, và mông.
Khi mổ xẻ, chăm sóc vết thương nếu chưa sát trùng triệt để, chúng ào ạt đi vào cơ thể;
Loại vi khuẩn sinh sống trong hệ tiêu hóa, có tới 1.200 loài vi khuẩn, số lượng lên tới 100 tỷ con. Có 85% là lợi khuẩn có ích lợi giúp ta tiêu hóa thức ăn, thải độc, bài tiết, chuyển hóa dinh dưỡng, tổng hợp các thành phần vi lượng (vitamin, men), các nội tiết tố, các kháng sinh tự nhiên để kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn có hại và mầm bệnh.
Chỉ 15% là hại khuẩn gây bệnh, khi gặp dịp là nổi loạn.Vi khuẩn trong miệng nói chung có hại. 1ml nước bọt có 100 triệu cá thể vi khuẩn thuộc 600 loại khác nhau. Nếu “thử” lơ là việc vệ sinh răng miệng trong một tuần: Lợi sẽ viêm, bắt đầu sâu răng, men răng bắt đầu bị ăn mòn, đục khoét. Mùi hôi của miệng do loại vi khuẩn có tên là Hp, thủ phạm gây bệnh viêm loét dạ dày mà 60% người Việt mắc. Người ta còn phát hiện trong miệng người bị sâu răng, có những vi khuẩn gây ba căn bệnh thời đại là đau tim, tiểu đường và béo phì.
Hại khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh nan y, như uốn ván, lao phổi, lao xương, hủi, thương hàn, giang mai, dịch tả, dịch hạch, tim mạch, các bệnh viêm cấp tính, viêm mãn tính, nhiễm trùng máu, tiêu chảy, mụn nhọt… Có thể gây tử vong, hoại tử cắt chi khi không được điều trị kịp thời. Nguy cơ cao với trẻ nhỏ, người già yếu…
Virus có cấu trúc đơn giản có một lớp vỏ Protein bảo vệ bao quanh vật liệu di truyền (RNA hoặc DNA). Quá trình nhân bản của virus cần phải xâm nhập vào tế bào vật chủ và sử dụng tài nguyên của tế bào chủ để nhân bản vi rút. Tạo ra nguy cơ phá hoại tế bào vật chủ, và lây nhiễm vi rút rất nhanh. Nếu không có vật chủ, thì virus không thể sinh sản. Virus có ở khắp mọi nơi và gây ra nhiều triệu chứng khác nhau, từ cảm lạnh thông thường và các bệnh hô hấp (ho, nghẹt xoang, sốt, đau nhức), phát ban trên da, ngứa, bệnh đường tiêu hóa (nôn mửa, tiêu chảy), các triệu chứng thần kinh (viêm màng não, sương mù não, suy nhược thần kinh), giảm trí nhớ, và các triệu chứng tâm thần kinh (rối loạn tâm trạng, mất ngủ, giảm trí nhớ, kích động, ảo giác, cúm, thủy đậu, mụn rộp, HIV, sởi, quai bị và rubella, cùng nhiều triệu chứng khác của COVID-19. Có loại lây truyền qua đường tình dục.
Với virut thì kháng sinh không mang lại hiệu quả chữa trị, mà cơ bản sẽ dựa vào việc dự phòng, tăng cường hệ miễn dịch. Có một số vaccine chống lại nhiều loại virus, nhưng không phải tất cả. Một số vi rut không có vaccine như Ebola, HIV, sốt xuất huyết,… Nhiều loại virut nguy hiểm có khả năng đột biến thoát khỏi kiềm chế của vaccine. Một số bệnh nhiễm trùng, do virus hoặc loại khác, chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Chúng thường gây ra các triệu chứng trong 1–14 ngày và tự khỏi hoặc nhờ sự trợ giúp của thuốc kháng virus đường uống. Một số khác sẽ theo bạn suốt đời, có thể gây ra các triệu chứng bệnh mãn tính, ngày càng nhiều với các trường hợp COVID kéo dài, tác động hệ tiêu hóa, tâm lý thần kinh, và tim mạch.
Bác sĩ Trần Quốc Khánh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: “Trong 10 vấn đề sức khoẻ mà Tổ chức Y tế Thế giới quan tâm năm 2019 thì có đến 6 nội dung có liên quan đến các loài vi khuẩn và virus. Bao gồm: Vấn đề virus cúm, virus HIV, virus Ebola, sốt xuất huyết, kháng kháng sinh và sự e ngại tiêm phòng vắc xin. Điều đó đã nói lên một điều thực sự rõ ràng rằng vi khuẩn-virus chính là những tác nhân liên quan lớn nhất đến sức khoẻ của con người trên toàn thế giới”. Vi rút, vi khuẩn đột biến là một thách thức ghê gớm nhất với tương lai nhân loại, phải đối phó với những bệnh lạ và những dịch bệnh có thể vô hiệu với vaccine.
Với vi khuẩn thì ngành y dùng kháng sinh có hiệu quả chữa trị cao. Nhưng kháng sinh luôn có sự chạy đua với những dòng vi khuẩn đột biến vượt qua mọi hàng rào kháng sinh và miễn dịch, trở thành kẻ bất trị. Việc lạm dụng thuốc kháng sinh gây ra tình trạng nhờn thuốc, và có những tác dụng phụ không an toàn sức khỏe.
Nhiều loại lợi khuẩn cộng sinh làm nhiệm vụ giúp ta tiêu hóa thức ăn, dọn dẹp rác rưởi, giúp ngăn chặn các loại hại khuẩn. Bởi vậy một sự cân bằng vi khuẩn là điều cần thiết. Phá vỡ mối cân bằng ấy là ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí gây hại cho sức khỏe con người. Dùng thuốc kháng sinh quá liều là cuộc “tàn sát” mang tính diệt chủng, mà không phân biệt tốt xấu, điều đó coi như để ngỏ cửa cho lũ vi khuẩn gây bệnh tự do xâm nhập và lộng hành.
Mất cân bằng giữa các quần thể vi khuẩn gây ra tình trạng gọi là “loạn khuẩn”, làm xuất hiện các triệu chứng như đầy hơi, tiêu chảy, táo bón, miễn dịch kém, mệt mỏi, dị ứng và nhiều hiện tượng tiêu cực khác. Lúc đó, cần phải tái lập cân bằng, tạo điều kiện cho các lợi khuẩn phát triển đến một số lượng bình thường.
Nguyên nhân gây mất cân bằng hệ vi sinh vật bên trong cơ thể, do chế độ ăn uống không lành mạnh. Các loại thức ăn nhanh, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh gây nên tình trạng hại khuẩn tăng nhanh. Cộng thêm với chế độ ăn uống không điều độ, khiến hệ vi sinh đường ruột bị mất cân bằng.
Ngoài ra nếu não bộ stress, thì lợi khuẩn trong cơ thể sẽ bị giảm đi, dẫn đến hại khuẩn tăng lên. Nếu lạm dụng thuốc kháng sinh lâu dài vô tình giết chết lợi khuẩn. Người cao tuổi lão hóa tự nhiên sẽ giảm lợi khuẩn trong cơ thể, mất cân bằng tỷ lệ hệ vi sinh trong cơ thể
Những vi khuẩn phổ biến gây nhiễm trùng đường tiêu hóa: Có một số loại vi khuẩn phổ biến gây nhiễm trùng đường tiêu hóa như E. coli, Salmonella, Bacillus cereus, Vibrio, Listeria, Campylobacter, và Clostridium botulinum có thể xâm nhập vào đường tiêu hóa qua thực phẩm hoặc nước uống bị nhiễm bẩn. Nhiễm trùng đường tiêu hóa có thể gây tiêu chảy cấp tính, co thắt bụng, mệt mỏi, chán ăn. Trong các trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến viêm loét dạ dày, ung thư dạ dày và ung thư tá tràng.
Những triệu chứng thường gặp của nhiễm trùng đường hô hấp: bao gồm hắt hơi, sổ mũi, ho có đờm, có thể gây viêm phổi, hen phế quản và các biến chứng nguy hiểm khác.
Nhiễm trùng đường tiết niệu gây ra bởi vi khuẩn Escherichia coli thông qua việc xâm nhập qua niệu đạo. Triệu chứng bao gồm nóng rát khi đi tiểu, tiểu máu, tiểu thường xuyên, sốt cao, ớn lạnh, buồn nôn. Để phòng tránh nhiễm trùng đường tiết niệu, nên uống đủ nước, đi tiểu đúng cách, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, tránh rượu và thuốc lá. Nếu không được điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu có thể gây biến chứng nghiêm trọng như nhiễm trùng thận hoặc huyết.
Bệnh lý nhiễm trùng da: như viêm nang lông, tróc da, và nhiều bệnh lý viêm nhiễm khác: viêm da cơ địa, hắc lào, lang ben, vẩy nến, zona thần kinh, lupus ban đỏ.. khiến bề mặt da lở loét, viêm nhiễm nặng. Tai nạn giao thông, bỏng nước, bỏng điện giật..luôn kèm theo sự tàn phá của vi khuẩn, nấm mốc, gây lở loét, năng thì hoại tử phải cắt chi.
Vi khuẩn có thể gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm khác như nhiễm trùng não, nhiễm trùng máu, sốt xuất huyết, viêm cầu lợn, viêm gan, viêm thận, viêm cơ tim, viêm dạ dầy… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng.
Những bệnh truyền nhiễm thường gặp với trẻ nhỏ hiện nay bao gồm bệnh cúm do virus cúm, bệnh sốt xuất huyết do virus Dengue, bệnh sởi và Rubella, bệnh chân tay miệng do virus Coxsackie A16 và một số virus khác, bệnh bạch hầu, viêm não … và gần đây nhất là viêm đường hô hấp cấp do virus corona.
Các nhóm đối tượng có tỷ lệ cao: Trẻ nhỏ thường có hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh, chưa có ý thức chăm sóc sức khỏe nên tỷ lệ mắc bệnh đường ruột rất cao, nhiễm ký sinh trùng, tiêu chảy, dịch tả,…Với người già, hệ tiêu hóa suy yếu do lượng lợi khuẩn giảm, tạo điều kiện cho các chứng bệnh phát sinh, dễ gặp ung thư hệ tiêu hóa. Những người sinh sống trong điều kiện môi trường không đảm bảo vệ sinh nước uống, thực phẩm bẩn dẫn đến hại khuẩn xâm nhập cơ thể tăng cao, phát sinh các bệnh đường ruột và mất cân bằng hệ vi sinh cơ thể.
Làm thế nào để phòng tránh tác hại của vi khuẩn?
– Vệ sinh sạch sẽ các vật dụng trong nhà thường xuyên sẽ đảm bảo không gian gia đình sạch sẽ, ngăn ngừa các ổ dịch phát sinh trong gia đình. Một số đồ vật cần chú ý để vệ sinh bao gồm: Quạt. Chăn màn. Chăn, ga, gối đệm, vỏ gối, nên giặt mỗi tuần một lần. Phơi nắng ruột gối, ruột chăn để tiêu diệt nguồn vi khuẩn. Gấu bông, đồ chơi của trẻ cần giặt gấu bông của bé thường xuyên và vệ sinh, khử trùng các món đồ chơi mà bé thường mang theo. Những vật dụng được sử dụng hàng ngày bát đũa dao thớt khăn lau chùi, bàn chải đánh răng rất dễ bị vi khuẩn nấm mốc lây lan… Dọn dẹp rác rưởi, cống rãnh hàng ngày. Nếu không vệ sinh sạch sẽ thường xuyên chúng sẽ trở thành ổ vi khuẩn đi vào cơ thể.
– Xây dựng chế độ dinh dưỡng đảm bảo vệ sinh. Hạn chế ăn các loại thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm đóng gói bên ngoài. Kiểm tra thực phẩm trước khi sử dụng, uống nước sạch. Bổ sung các sản phẩm sữa chua chứa lợi khuẩn. Tăng cường sử dụng các loại rau, củ quả giàu Prebiotic tạo lợi khuẩn cho cơ thể.
– Nên rửa tay xà phòng thường xuyên.
– Uống nhiều nước để làm mềm phân trong ruột già. Mỗi ngày sử dụng từ 2 lít đến 2.5 lít nước tùy theo cân nặng của từng người, giúp hạn chế tình trạng táo bón, ngăn ngừa các vi khuẩn có hại sinh sôi trong ruột. Sử dụng nước sạch để tránh lây nhiễm vi khuẩn.
– Sử dụng khẩu trang và các phương tiện khác để tránh sự lây nhiễm của vi khuẩn.
– Tiêm phòng để bảo vệ cơ thể khỏi các tác hại của vi khuẩn.
– Tập luyện thể thao giúp tăng sức khỏe hệ miễn dịch, giảm stress, kích thích nhu động ruột, giúp thức ăn di chuyển, tiêu hóa nhanh hơn. Nhờ đó giảm táo bón, giảm vi khuẩn có hại.
– Bổ sung lợi khuẩn bằng cách sử dụng thực phẩm chứa lợi khuẩn với liều lượng phù hợp. Không nên quá lạm dụng các loại thực phẩm chức năng như men vi sinh, viên ngậm,… Nếu lượng lợi khuẩn tăng đột biến, hệ vi sinh đường ruột cũng bị mất cân bằng.
Tăng cường bổ sung lợi khuẩn nếu gặp phải các dấu hiệu dưới đây: Nếu thường xuyên có hội chứng ruột kích thích, ăn nhiều không béo, không dung nạp chất dinh dưỡng. Cân nặng thay đổi thất thường. Các dấu hiệu khác: bị lên mụn bất thường, mẩn ngứa da hoặc tự nhiên có mùi hôi cơ thể, hôi miệng,… Là tình trạng cơ thể đang dần mất cân bằng sinh thái hệ vi sinh, hại khuẩn hoạt động mạnh. Cần uống bổ xung lợi khuẩn men tiêu hóa đúng liều lượng.
Những bệnh nhiễm trùng đặc biệt nguy hiểm, cần biết đề phòng:
I. Bệnh Whitmore (ăn thịt người) được liệt vào danh sách vi khuẩn có mức độ nguy hiểm cao, gây tử vong nhanh và đang có tỷ lệ gia tăng.
Vi khuẩn Whitmore có đến 30 vi khuẩn khác nhau gây bệnh viêm mô hoại tử. Loại vi khuẩn thường gặp là Vibiro vulnificus trong nước mặn, Aeromonas hydrophila trong nước ngọt, liên cầu nhóm A trên da. Các loại này khiến hoại tử mô mềm cực nhanh. Nếu không được ngăn chặn kịp thời thì tốc độ lan bệnh rất nhanh gây hệ quả phải cắt bỏ hoàn toàn bộ phận bị vi khuẩn xâm nhập để bảo vệ các phần cơ thể khác của bệnh nhân.
Vi khuẩn Gram âm Burkholderia pseudomallei gây viêm nhiễm trùng da, gây áp xe, viêm loét da. Đồng thời gây viêm phổi, nhiễm trùng xương khớp, hệ thần kinh, gan, lách, tuyến tiền liệt, nhiễm trùng huyết cho người bệnh đã nhiễm vi khuẩn. Bệnh nhân có thể được chữa khỏi nhưng tỷ lệ không cao, bệnh dễ tái phát và có thể tử vong nhanh chóng trong vòng 48 tiếng kể từ khi phát hiện bệnh. Là bệnh lý truyền nhiễm cấp tính do trực khuẩn sống trong đất gây ra. Khi xâm nhập vào cơ thể chúng sẽ di chuyển tấn công các bộ phận của cơ thể. Bệnh Whitmore có thể gặp phải ở tất cả các độ tuổi, giới tính. Nguy cơ cao với người tiếp xúc thường xuyên với môi trường bùn, đất, nước, có chứa trực khuẩn gây bệnh. Lây nhiễm qua các vết xước, vết thương ngoài da, hoặc vết thương tai nạn. Nguy cơ nhiễm bệnh cao với người mắc bệnh mạn tính như bệnh phổi, đái tháo đường, bệnh thận, suy giảm miễn dịch… Đặc biệt, bệnh Whitmore ở Việt Nam có thể lây qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa do người bệnh hít phải bụi nhiễm khuẩn, hoặc ăn phải các thức ăn có vi khuẩn Whitmore, sử dụng chung kim tiêm hoặc quan hệ tình dục với người nhiễm bệnh. Một số động vật như cừu, dê, ngựa, chó, mèo… cũng là nguồn gây bệnh cần chú ý. Nơi chấn động thiên tai, mưa lũ, lũ bùn đất có nguy cơ truyền nhiễm vi khuẩn Whitmore
Mặc dù chưa từng bùng phát thành dịch bệnh nhưng Whitmore có tỷ lệ tử vong cao nên cực kỳ nguy hiểm, cùng khả năng lây nhiễm qua con đường hô hấp cao khi hít phải, nên vi khuẩn B. Pseudomallei đã được cơ quan kiểm soát và phòng trừ dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) xếp vào nhóm tác nhân nguy hiểm loại 1 (tương đương vi khuẩn than Bacillus anthracis) và có thể là vũ khí sinh học. Nếu không được chẩn đoán chính xác kịp thời, có thể sẽ khiến người bệnh phải đánh đổi bằng cả tính mạng. Theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh của Mỹ, người nhiễm vi khuẩn bệnh Whitmore nếu không được điều trị thì cứ 10 người nhiễm sẽ có 9 người tử vong. Nếu người bệnh được điều trị đúng kháng sinh thì con số tỷ vong ở mức 4 người trên 10 người.
Sau khi tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh từ 2 – 4 tuần người bệnh mới xuất hiện triệu chứng, hoặc không biểu hiện triệu chứng, mà thường gặp những biểu hiện lâm sàng bệnh rõ nhất là:
- Nhiễm trùng phổi nhẹ hoặc nặng, viêm phổi. Có các triệu chứng lâm sàng bao gồm:
Đau ngực khi hít thở. Ho có đờm hoặc không. Sốt cao liên tục. Đau nhức cơ thể và đau đầu. Sụt cân nhanh chóng
Bệnh có các triệu chứng dễ gây nhầm lẫn với các bệnh lao phổi, viêm phổi, khiến việc điều trị muộn, dẫn đến sốc nhiễm trùng có thể nhanh chóng dẫn đến tử vong.
- Nhiễm trùng khu trú trên da, có thể lan vào máu. Các triệu chứng như:
Xuất hiện triệu chứng sưng đau, trên da nổi các mụn mủ to hoặc nhỏ, đôi khi là một ổ áp-xe lớn. Bị loét hoặc viêm trên da, hoặc viêm dưới da, ở nhiều vị trí khác nhau. Sốt cao.
Vi khuẩn sau đó theo dòng máu đi đến khắp các cơ quan trong cơ thể nhất là gan, lách, phổi gây nên các ổ áp-xe từ nhỏ đến lớn hoặc có thể liên kết với nhau. Kèm theo các triệu chứng: Sụt cân. Sốt cao. Đau ngực hoặc đau dạ dày. Đau cơ hoặc khớp. Đau đầu, co giật. Đa số các vết loét nhiễm trùng sẽ xuất hiện ở gan, lách, phổi hoặc tuyến tiền liệt.
- Nhiễm trùng máu: Bệnh Whitmore nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ nhanh chóng tiến triển và khiến người bệnh bị nhiễm trùng máu hay còn gọi là sốc nhiễm trùng, là dạng bệnh Whitmore nghiêm trọng nhất. Người bệnh trên 40 tuổi sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm trùng máu trong bệnh Whitmore. Có thể đe dọa tính mạng. Các triệu chứng bao gồm:
- Người bệnh bị sốt rét run kèm theo vã mồ hôi
- Đau nhức đầu. Đau vùng bụng trên. Bị tiêu chảy
- Đau họng. Khó thở
- Đau khớp và đau cơ
- Mất phương hướng
- Xuất hiện vết loét rộng có mủ trên da hoặc cơ, ở bên trong gan, lách, tuyến tiền liệt
Khi nghi ngờ bị nhiễm bệnh cần nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời. Phải tiến hành nuôi cấy vi khuẩn B. pseudomallei, bác sĩ lấy mẫu máu, mẫu đờm, mủ hoặc nước tiểu, và nước dịch…
Bệnh Whitmore có nhiều thể bệnh khác nhau: bệnh tối cấp, trung bình hoặc mạn tính. Có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và không rõ ràng. Vì vậy dễ bị bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm với bệnh khác. Đặc biệt của bệnh mạn tính là bệnh rất dễ tái phát cho nên sức khỏe của người bệnh rất dễ suy kiệt (do bệnh tái đi tái lại hoặc điều trị không đúng phác đồ).
Hiện nay, bệnh Whitmore ở Việt Nam chưa có vắc xin phòng ngừa. Mỗi người hãy chủ động tìm hiểu và trang bị các kiến thức về căn bệnh này, phòng tránh hiệu quả và an toàn.
Phòng ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn Whitmore:
- Khi có vết thương hở hoặc trầy xước, loét trên da thì không tiếp xúc với đất, nước nơi có khả năng chứa vi khuẩn Whitmore. Với những người làm việc trong môi trường bùn đất này cần trang bị bảo hộ an toàn như giày, dép, găng tay…
- Những người mắc bệnh suy giảm miễn dịch, suy thận, đái tháo đường… cần được chăm sóc và bảo vệ cẩn thận. Hạn chế tiếp xúc với đất, nước, nơi có khả năng ô nhiễm gây bệnh
- Nghi ngờ bị nhiễm bệnh, có các dấu hiệu nhiễm trùng tại chỗ, có hiện tượng sưng, đau, sốt, loét, áp xe. Ho, đau ngực, sốt cao, đau đầu, chán ăn, biểu hiện gần giống viêm phổi phải nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được khám, và điều trị kịp thời
Thời gian ủ bệnh Whitmore thông thường từ 1- 21 ngày, trung bình là 9 ngày. Tuy nhiên có trường hợp ủ bệnh cả năm với các dấu hiệu lặp đi lặp lại.
Người bệnh sẽ được điều trị bằng thuốc kháng sinh truyền đường tĩnh mạch trong 10- 14 ngày, sau đó chuyển qua kháng sinh đường uống trong 3- 6 tháng hoặc lâu hơn tùy vào tình trạng tiến triển bệnh. Được bác sĩ chỉ định một số loại kháng sinh phù hợp như:
- Kháng sinh đường tĩnh mạch: Ceftazidime mỗi 6-8 giờ hoặc Meropenem mỗi 8 giờ.
- Kháng sinh đường uống: Trimethoprim-sulfamethoxazole mỗi 12 giờ hoặc Amoxicillin/clavulanic acid mỗi 8 giờ
Những trận mưa lớn kéo dài nhiều ngày qua còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm. Ngành y tế tỉnh Lào Cai vừa phát đi cảnh báo khẩn cấp về bệnh Whitmore. Là trường hợp bệnh nhân Đ.N.G ở xã Bảo Yên. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốt cao, đau đầu, mệt mỏi và được xác định dương tính với vi khuẩn Whitmore. Bệnh nhân cho biết, chỉ làm vườn quanh nhà và không đi đâu xa trong vòng 15 ngày trước khi phát bệnh. Rất may mắn, sau khi điều trị tích cực, sức khỏe của bệnh nhân đã cải thiện được 60%.
II. Bệnh uốn ván:
Uốn ván là bệnh lý truyền nhiễm vô cùng nguy hiểm, nhất là ở trẻ em với tỷ lệ tử vong lên đến 95% nếu phát bệnh. Trước khi tử vong, trẻ có thể sẽ phải đối mặt với nhiều biểu hiện những biến chứng trầm trọng. Nếu may mắn vượt qua và sống sót, nguy cơ cao trẻ sẽ phải đối diện với nhiều di chứng vĩnh viễn.
Hàng năm, uốn ván cướp đi khoảng 200.000 sinh mạng trên toàn cầu. Căn bệnh nguy hiểm này luôn rình rập và tấn công ngay khi cơ thể người xuất hiện các vết thương hở. Cần trang bị sớm những kiến thức về dấu hiệu uốn ván để kịp thời xử trí bệnh nguy hiểm.
Bệnh uốn ván, hay còn gọi là Tetanus, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn uốn ván (Clostridium tetani) là một loại vi khuẩn Gram dương gây bệnh. Bệnh uốn ván có những dấu hiệu chủ yếu là cơn co cứng cơ và đau. Bắt đầu từ các cơ nhai, cơ mặt, gáy và sau đó lan rộng đến cơ thân. Trực khuẩn uốn ván tạo ra các nha bào có hình dạng hình cầu tròn hoặc dạng dùi trống. Nha bào uốn ván xâm nhập vào cơ thể thông qua các vết thương hở và sâu tiếp xúc với đất bẩn, cát, phân người hoặc súc vật, hoặc nhiễm qua các vết rách, vết bỏng, vết thương dập nát hoặc tiêm chích nhiễm bẩn. Bệnh uốn ván cũng có thể xảy ra sau phẫu thuật, nạo thai trong điều kiện không vệ sinh. Uốn ván ở trẻ sơ sinh thường xảy ra do nhiễm trùng từ cắt dây rốn không đảm bảo vệ sinh hoặc do chăm sóc rốn sau sinh không đúng cách.
Khi nha bào uốn ván xâm nhập vào cơ thể, trong điều kiện phù hợp, chúng sẽ phát triển tại vết thương trong điều kiện yếm khí và tạo ra độc tố uốn ván protein tetanospasmin ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, gây tổn thương não và hệ thần kinh trung ương, dẫn đến cứng cơ, co cứng, co giật cơ và một số rối loạn hệ thần kinh thực vật và có thể gây tử vong nhanh. Tỷ lệ tử vong của bệnh uốn ván rất cao, dao động từ 25-90%, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh với 95%.
Việc nhận biết và điều trị sớm là rất quan trọng. Sau khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, thời gian ủ bệnh dao động từ 3 đến 21 ngày, trong một số trường hợp có thể kéo dài vài tuần. Các vết thương bị nhiễm bẩn nặng thì thời gian ủ bệnh ngắn hơn và bệnh cũng nặng hơn, khả năng tử vong cao hơn và tiên lượng xấu hơn.
Một số dấu hiệu phổ biến của bệnh uốn ván bao gồm cứng cơ mặt, cơ gáy, lưng và bụng trở nên co cứng, gây ra đau và khó chịu cho bệnh nhân. Chuột rút hàm hoặc không thể mở miệng có thể kèm theo co thắt cơ thường xuất hiện ở lưng, bụng và tứ chi. Co thắt cơ đau đột ngột thường được kích hoạt bởi tiếng động, khó nuốt, co giật và đau đầu. Có thể sốt, đổ mồ hôi, thay đổi huyết áp hoặc nhịp tim nhanh.
Khi có những dấu hiệu bất thường như vậy, nên tới ngay cơ sở y tế để thăm khám. Hoặc khi bị thương bởi vật nhọn như đinh, sắt hoặc gai, cần xử lý vết thương ngay lập tức và sau đó tới bệnh viện để được khám và tiêm phòng bệnh uốn ván trong vòng 24 giờ sau khi bị thương. Nên giữ vết thương mở và không bịt kín để tránh nhiễm trùng và hoại tử.
Khi vi khuẩn uốn ván phát triển và lan rộng trong cơ thể, các triệu chứng trở nên nghiêm trọng hơn. Đặc biệt, bệnh nhân có thể bị cong người, gập người hoặc không thể duỗi thẳng toàn bộ cơ thể. Một số trường hợp có co giật toàn thân khi tiếp xúc với ánh sáng hoặc tiếng ồn lớn. Bệnh uốn ván có thể gây ra những biến chứng vô cùng nghiêm trọng như: co thắt hầu họng, thanh quản, làm tắc nghẽn đường thở gây ngạt, ngừng thở, sặc, trào ngược dịch dạ dày vào phổi, gây ứ đọng đờm dãi và suy hô hấp do cơn co thắt kéo dài.
Ngoài ra, bệnh còn có thể dẫn đến nhiều biến chứng khác như viêm phế quản, viêm phổi, tắc nghẽn động mạch phổi, nhiễm khuẩn vết mổ khí quản, viêm ở nơi tiêm truyền tĩnh mạch, viêm xoang, nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc huyết. Bệnh có thể gây ra rối loạn thăng bằng nước và điện giải, suy thận và nhiều biến chứng khác như: suy dinh dưỡng, cứng khớp, gãy xương, loét vùng tỳ đè, suy giảm tri giác do thiếu oxy kéo dài, đứt lưỡi do cắn phải gãy răng.
Trẻ sơ sinh bị uốn ván triệu chứng thường bao gồm co thắt cơ, thường xảy ra trước khi trẻ sơ sinh không thể bú hoặc bú được ít và khóc nhiều hơn bình thường, quấy khóc tăng lên, từ chối bú và có triệu chứng sốt cao và đổ mồ hôi liên tục…. Cha mẹ cần chú ý theo dõi kỹ các dấu hiệu không bình thường của bé để có biện pháp xử lý kịp thời.
Hiện tại, chưa có phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh uốn ván. Trong trường hợp nhận thấy các dấu hiệu bị nhiễm trùng uốn ván, bệnh nhân cần đến bệnh viện khám, được chăm sóc và điều trị ngay lập tức, và lâu dài để giúp hạn chế triệu chứng bệnh và tăng cường đề kháng. Chưa có cách chữa trị hiệu quả cho uốn ván mà hiện chỉ có các biện pháp làm giảm triệu chứng. Do đó, việc tiêm phòng ngừa uốn ván là vô cùng quan trọng để bảo vệ sức khỏe và tính mạng. Hiện nay, tiêm vaccine được coi là biện pháp phòng ngừa tốt nhất.
Những nỗ lực tìm kiếm giải pháp chống vi khuẩn.
Năm 2017 tổ chức Y tế thế giới WHO đã cảnh báo, vấn đề nhờn thuốc kháng sinh hiện nay đã lan rộng trên toàn cầu. Các siêu vi khuẩn ước tính gây ra hơn 700.000 ca tử vong mỗi năm. Và công bố 12 loại siêu vi khuẩn kháng kháng sinh nguy hiểm nhất thế giới. Bao gồm 3 nhóm vi khuẩn đứng đầu gần như không còn gì để điều trị, cần ưu tiên nghiên cứu cấp thiết nhất: Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa, và Enterobacteriaceae kháng carbapenem, 6 vi khuẩn ở mức ưu tiên Cao và 3 vi khuẩn ở mức ưu tiên Trung bình.
Cấp độ ưu tiên Cấp thiết
- Acinetobacter baumannii, kháng carbapenem
- Pseudomonas aeruginosa, kháng carbapenem
- Enterobacteriaceae, kháng carbapenem và tiết ESBL. Bao gồm cả họ E.coli.
Cấp độ ưu tiên Cao
- Enterococcus faecium, kháng vancomycin
- Staphylococcus aureas, kháng methicillin, trung gian vancomycin và kháng vancomycin
- Helicobacter pylori, kháng clarithromycin
- Campylobacter spp., kháng fluoroquinolon
- Salmonella spp., kháng fluoroquinolon
- Neisseria gonorrhoeae, kháng cephalosporin và fluoroquinoloneCấp độ ưu tiên: Trung bình* Steptococus pneumoniae kháng penicillin không nhạy cảm* Haemophilus influenzae kháng ampicillin* Shigela sppkháng fluoroquinol
Mới đây WHO vừa phát đi cảnh báo khẩn về tình trạng kháng kháng sinh đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, đe dọa đẩy nhân loại vào một cuộc khủng hoảng y tế nghiêm trọng – thời kỳ mà ngay cả những bệnh nhiễm khuẩn thông thường cũng có thể gây tử vong. Hơn 40% loại kháng sinh phổ biến đã suy giảm hiệu quả đáng kể trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn máu, đường ruột và tiết niệu. Năm 2021, thế giới ghi nhận 7,7 triệu ca tử vong do nhiễm khuẩn, trong đó 4,7 triệu trường hợp liên quan đến kháng thuốc và 1,14 triệu người tử vong vì không còn thuốc đặc trị. Nếu không có hành động quyết liệt, đến năm 2050 số ca tử vong do kháng thuốc có thể tăng thêm 70%. WHO cảnh báo các chính phủ hành động khẩn cấp, tăng đầu tư vào hệ thống giám sát và bảo tồn hiệu quả các loại kháng sinh hiện có, nhằm ngăn chặn nguy cơ thế giới bước vào “kỷ nguyên hậu kháng sinh” – khi mọi liệu pháp điều trị quen thuộc có thể trở nên vô hiệu.
Phát minh đột phá về khả năng diệt khuẩn, của các nhà khoa học Nga đã tạo ra nước sát khuẩn mạnh từ muối ăn. Đã được người Việt Nam tiếp thu và Công ty Ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) Quốc tế đã sản xuất nước thông minh SmarkA. SmarkA là nước muối nhạt tự nhiên được điện phân tách Clo là chất sát khuẩn cực mạnh. Clo còn có ái lực hóa học cao có thể trung hòa các gốc tự do. Gốc tự do tác động vào màng tế bào rất nhanh trong 1/1000 giây. Là nguyên nhân chính làm tăng tình trạng viêm, hoại tử. Vì vậy có Smark A có hiệu quả kép vừa diệt khuẩn, vừa giải độc cho thực phẩm, sử lý ngộ độc thực phẩm.
Kết quả xét nghiệm khả năng diệt khuẩn của Smar A, do Viện kiểm nghiệm VSATTP quốc gia đã trả lời phiếu kết quả số Số 35330/PKN-VKNQG xác định Smark A diệt được 7 loại vi khuẩn chỉ trong 1 phút. Là trực khuẩn thương hàn, cầu khuẩn đường ruột, trực khuẩn mủ xanh, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn E.coli. Tên khoa học là E.coli, Entenrococcus Faecails, Pseudomonas aeruginosa, S.aurueus, salmollena sp, Shigella sonnei, Vibrio cholerae. Trong số 12 loại siêu vi khuẩn nguy hiểm nhất do WHO công bố, thì điều rất ngoạn mục là Smark A đã diệt được 4 loại siêu vi khuẩn cứng đầu nhất thế giới là Pseudomonas aeruginosa, Enterobacteriaceae bao gồm cả họ E.coli, S.aurueus, salmollena sp. Trong đó Pseudomonas aeruginosa đứng đầu danh sách vi khuẩn nguy hiểm gần như không còn thuốc nào điều trị.
Điều đó đã khẳng định giá trị quý giá của Smark A đang ở vị thế hàng đầu diệt được một số vi khuẩn kháng kháng sinh nguy hiểm nhất. Có cơ sở khoa học chắc chắn không thể bác bỏ vai trò quan trọng của Smark A đối với bệnh tật, dịch bệnh và rất nhiều tác dụng hữu ích khác.
Hội thảo ngày 15.10.2025 “Những kết quả đột phá trong nghiên cứu mới về sản phẩm Smart A”. Do Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam phối hợp với Công ty Ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) Quốc tế đồng tổ chức. Các chuyên gia khoa học Nga và Việt nam đã công bố một số kết quả nghiên cứu đa dạng về SmarkA, cho thấy hiệu quả phong phú của Smark trên nhiều lĩnh vực bảo vệ sức khỏe và đời sống.
TS Đặng Văn Nghiễm, nguyên Trưởng Bộ môn Trường Đại học Y dược Thái Bình cho biết, Smart A có khả năng diệt khuẩn cao, không gây hại tế bào và tác dụng tái tạo, làm lành vết thương. Do vậy, sản phẩm có thể giúp làm sạch vết thương và ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn, từ đó hỗ trợ quá trình lành vết thương nhanh chóng hơn.
Một báo cáo gây ấn tượng mạnh là nghiên cứu của TS Bayandin Roman, chuyên gia nghiên cứu về Virus và Công nghệ sinh học. Trung tâm Virus và Công nghệ sinh học Quốc gia, Liên bang Nga. Ông công bố kết quả thử nghiệm cho thấy Smart A có thể “tiêu diệt hoàn toàn virus cúm A/H5N1 trên phôi trứng” mà không ảnh hưởng đến phôi gà con không bị chết, vẫn phát triển bình thường. Đây là một phát hiện đặc biệt của Smark A, không có tác dụng không mong muốn như thuốc Tamiflu trong cùng điều kiện thí nghiệm. Kết quả này được giới khoa học Nga đánh giá là bước đột phá trong nghiên cứu sát khuẩn sinh học an toàn, không chứa độc tính, không gây viêm hoặc kích ứng khi tiếp xúc với da và có khả năng kháng virut cúm A/H5N1.
Nhóm nghiên cứu “Đánh giá tác dụng của sản phẩm Smart A kiềm hoạt tính lên một số dòng tế bào ung thư nuôi cấy” của TS Phạm Thị Bích, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: đã đưa Smart A hoạt tính vào thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư nuôi cấy. Kết quả cho thấy sản phẩm làm giảm mạnh tỷ lệ sống của tế bào ung thư gan (HepG2), ung thư phổi (A549) và ung thư đa tủy (KMS20), đồng thời kích thích quá trình oxy hóa nội bào ở mức phù hợp. Những phát hiện này mở ra triển vọng cho hướng ứng dụng Smart A trong hỗ trợ kiểm soát tế bào ung thư.
Bác sĩ CKII Hồ Việt Thu, nguyên Phó trưởng Bộ môn Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Đại học Y Phạm Ngọc Thạch, khẳng định Smart Care có thành phần Acid Hypochlorous (HOCl), một hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên mà cơ thể người có thể tự tạo ra. Do đó, Smart Care thân thiện, an toàn và giúp bảo vệ gần như tuyệt đối vùng kín của phụ nữ khỏi các tác nhân gây viêm nhiễm. ThS, BS Hà Thị Vân Anh cũng chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng cho thấy việc sử dụng Smart Care trong điều trị phụ khoa đã đem lại hiệu quả vượt trội, giảm rõ rệt tình trạng tái nhiễm so với nhiều sản phẩm vệ sinh phụ nữ khác hiện có trên thị trường.
Ông Hà Văn Nam cho biết thêm, qua thực tiễn ứng dụng Smart A, có nhiều trường hợp bệnh dùng thuốc kháng sinh nhiều tháng không khỏi, nhưng hiệu quả khi dùng Smart A. Hàng trăm ca hoại tử do vết loét tì đè, biến chứng tiểu đường, bỏng, thủy đậu, zona viêm nhiễm nặng, bỏng diện rộng, bỏng điện giật, bỏng hơi, các bệnh viêm da, đã được chữa khỏi bằng Smark A, giảm thiểu sử dụng kháng sinh, đồng thời an toàn với cơ thể, không có độc tính.
Hội thảo đã cơ bản thống nhất giá trị thực tế hỗ trợ chữa lành bệnh của Smart A đối với những bệnh viêm nhiễm vi khuẩn, vi rút, làm liền vết thương nhanh, an toàn, hạn chế lạm dụng kháng sinh. Đem lại hiệu quả bảo vệ sức khỏe tốt, tiện lợi dễ sử dụng, chi phí thấp, giảm thiểu quá tải cho các bệnh viện.
Kết luận hội thảo, TS Lê Đình Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cảm ơn, đánh giá cao sự quan tâm có mặt đông đủ, trách nhiệm của các nhà khoa học, các đại biểu khách quý, góp phần vào thành công hội thảo.
Những kết quả nghiên cứu công bố trong hội thảo đã sáng tỏ những tác dụng đa dạng của Smark A. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, xác định Smark A có thể tiêu diệt bao nhiêu loại virut vi khuẩn, bao nhiêu loại không diệt được ? Và nghiên cứu hiệu quả sử dụng Smark A cho người, động thực vật, có thể giảm thuốc trừ sâu, giảm kháng sinh… Đã có thử nghiệm thành công chữa dịch bệnh gia cầm nhờ biện pháp cho uống nước Smark A. Giải ngộ độc thực phẩm bằng Smark A. Vệ sinh nhiễm khuẩn tai mũi họng, và chữa viêm tai mũi họng cho trẻ nhỏ. Vì vậy cần nghiên cứu hiệu quả các giải pháp an toàn sinh học này trên quy mô rộng.
Đối với loại vi khuẩn yếm khí nằm sâu trong máu và các bộ phận cơ thể người, thì chưa kết luận Smark A diệt được hại khuẩn trong nội tạng hay không ? Cần nghiên cứu tác dụng của Smark A qua đường uống, liều lượng uống….
Tôi nêu một kinh nghiệm mới về dùng Smark A cho bệnh ngoài da, không cần pha loãng, mà có thể tưới Smark trực tiếp mới cung cấp đủ lượng Clo thấm qua da, tạo ra hiệu quả rất cao. Dễ thao tác ai cũng làm được, và giảm 2/3 thời gian sử lý tổn thương, giúp cho việc sử dụng smark A được phổ dụng hơn. Cách làm:
- Rửa nhanh nơi tổn thương bằng nước smarkA, nếu có mụn nước thì chọc ra, dùng bông thấm khô. Đặt một miếng bông mỏng được tẩm Smark A phủ kín vùng tổn thương. Và tất cả các vị trí da tổn thương.
- Tưới ít nước Smark A lên các miếng bông giữ ẩm để Clo thấm qua da. Sau 3 phút tưới 1 lần. Biện pháp tưới nước smark A rất quan trọng để Clo thấm đều trên da và tác động sâu dưới da, nhanh giảm viêm, giảm đau nhức. Ngày đầu cứ 3h lại rửa sạch tưới nước Smark A như trên. Bệnh nhẹ thì 4-5h một lần. Không dùng bình phun xịt làm bay hơi mất nhiều Clo.
- Sau 15- 20 phút tưới Smark A, thì bỏ bông ra. Dùng bông khô lau chùi sạch các mẩu da chết, tế bào chết. Để vết thương hở thoáng khô ráo, kiêng nước, không đắp kín, giữ vệ sinh sạch sẽ, tránh nhiễm bẩn, ruồi nhặng.
Tiếp tục ngày thứ hai, thứ ba làm tương tự. Theo dõi thấy giảm viêm sưng tấy, giảm đau, giảm chảy nước, chảy mủ thì giảm số lần tưới nước Smark A xuống 3 lần, 2 lần, một lần. Khỏi.
Với các vết thương lớn, thì giai đoạn đầu tiên làm như trên, tưới nước Smark A. Giai đoạn 2 khi vết thương đã giảm viêm, ngừng chảy mủ, bắt đầu phục hồi tạo cơ màu hồng lấp đầy vết thương, thì cần pha loãng Smark A với nước tinh khiết, tỷ lệ 1/1 hoặc ½ để rửa vết thương, thì không để lại sẹo như Liên đã làm được.
Phương pháp Smark A dễ sử dụng cho mọi người tự làm được, hiệu quả cao cho những bệnh nhiễm trùng nặng, hoặc vi khuẩn ăn dưới da khó đáp ứng kháng sinh đã chữa khỏi.
Với những loại vi khuẩn yếm khí trú ngụ lâu trong cơ thể, gây ra triệu chứng gầy yếu, bệnh mãn tính táo bón, viêm đại tràng chảy máu, polip đại tràng, ung thư đại tràng, viêm dạ dày, viêm gan, viêm cơ tim, viêm thận, viêm tụy, viêm xoang… có thể không chữa khỏi bằng kháng sinh. Cách phòng ngừa tốt nhất là uống thuốc Đông y của đồng bào dân tộc trị viêm, ngứa. Tôi đã xem xét một số loại thuốc cao Đông Y của đồng bào dân tộc thiểu số dùng để uống trị viêm, ngứa. Đã có kết quả diệt khuẩn với 4 loại vi khuẩn cứng đầu có trong danh sách của WHO, trong đó diệt được vi khuẩn gam âm, tụ khuẩn vàng. Đã áp dụng thành công với một số người, chữa khỏi viêm cơ tim, và một số bệnh viêm mãn tính lâu năm. Mở ra triển vọng dùng Smark A và thuốc Đông y có thể giảm thiểu tỷ lệ tử vong về tim mạch và bệnh mãn tính kháng thuốc kháng sinh.
Ngoài ra còn có vi khuẩn gây suy yếu cho người cao tuổi bị yếu cơ chân tay, xương khớp, đi lại khó khăn, dễ bị nhầm tưởng do bệnh khớp. Phải ngồi xe lăn, rồi đến giai đoạn nằm không dậy được, phải có người phục vụ tại giường. Lúc đó vi khuẩn được dịp gây hoại tử từng vùng thiếu máu do tỳ đè, rất đau đớn. Tỷ lệ cao khoảng 20% người già mắc phải. Vì thế cần uống thuốc Đông y phòng ngừa vi khuẩn từ trước để không bị nằm liệt.
Trong tương lai chúng ta phải đối phó với những dịch bệnh viruts, vi khuẩn, nặng gấp vài chục lần covis-19. WHO kêu gọi tất cả các nước thế giới cần tập trung nghiên cứu giải pháp đối phó. Chúng ta cần nắm vững kiến thức dự phòng với vi khuẩn. Cần tích cực luyện tập nâng cao khả năng miễn dịch, và cập nhật các kết quả nghiên cứu thuốc trị vi khuẩn.
Đoàn Thanh Hương.
![]()
