BÀI CẤP BA:
KHAI THÔNG KINH MẠCH.
Khí là nền móng sức khỏe. Bác sĩ Đông y chữa bệnh bằng khai thông ách tắc khí trong kinh mạch huyệt đạo. Với các biện pháp châm cứu, xoa bóp, day bấm huyệt, bốc thuốc thảo dược thiên nhiên. Phải được huấn luyện Đông y gia truyền, hoặc đi học nhiều năm, đọc hàng chục cuốn sách mới có đủ kiến thức chữa bệnh. Người bình thường không tự chữa được.
Phương pháp Vô thức khai thông kinh mạch bằng phương pháp mới, phát huy những tiềm năng bí ẩn ở đầu các ngón tay ngón chân. Dễ nhớ, dễ thực hành. Chỉ cần đọc kỹ sách này để phát huy tiềm năng của mình, thì mọi người có thể tự chủ điều chỉnh hệ kinh mạch.
Bàn tay chân không chỉ là công cụ đắc lực trong đời sống. Nhìn sâu bằng con mắt Trí Huệ sẽ thấy bàn tay chân hội tụ rất nhiều chức năng siêu phàm về khí. Bàn tay chân là cầu nối của não bộ nối dài để linh hoạt điều khí đến mọi bộ phận cơ thể. Bàn tay chân còn khai mở tiềm năng của chính não bộ, để làm chủ thân tâm, thăng hoa tinh thần. Tạo hóa đã sắp đặt những khả năng bí ẩn của ngón tay chân có ý nghĩa vô cùng to lớn trong một cuộc đời.
Theo Đông y cổ truyền, mỗi ngón tay chân có một đến hai đường kinh mạch chính chạy dọc ngón tay ngón chân. Tổng cộng có 12 cặp kinh mạch chính đi qua 20 ngón tay chân, rồi đi đến các bộ phận: Tim, não, phổi, dạ dày, gan, thận, mật, dạ dày, ruột non, ruột già… Vì thế các ngón tay chân có liên hệ mật thiết với từng bộ phận cơ thể, là cầu nối để dẫn khí giải ô trược cho các bộ phận đau yếu bên trong cơ thể.
Hai bên dưới gốc móng tay là vị trí đặc biệt nhất, có huyệt đạo đầu tiên của kinh mạch. Còn có chi nhánh huyết mạch, và mạng lưới dây thần kinh tập trung dày đặc ở đầu ngón tay chân. Khi nắn bóp vị trí đặc biệt này, đã tác động đến cả tuyến đường kinh mạch chính và huyết mạch, dây thần kinh, năng lượng sinh học…
Mỗi đỉnh ngón tay chân còn liên quan đến não bộ. Mười đỉnh ngón tay gọi là các điểm Thập Tuyên. Mười đỉnh ngón chân gọi là các điểm Khí Đoan. Là 20 điểm liên hệ trực tiếp với não bộ, tương ứng với một vùng não bộ. Phương pháp vô thức đã ứng dụng thành công tác động vào đỉnh ngón tay chân để khai mở tiềm năng não bộ, tăng công suất hoạt động não, nâng cao hoạt động miễn dịch tự chữa lành. Đã khai mở trung tâm não thứ ba là Hà Đào Thành có chức năng cân bằng âm dương cho cơ thể, loại trừ các nguyên nhân bệnh tật, đưa năng lượng sạch vào cơ thể. Bàn tay chân trở thành báu vật giải trừ hậu quả ô nhiễm môi trường.
Đỉnh cao và nhọn của ngón tay chân như các anten thu phát năng lượng sinh học. Nơi tập trung chùm ánh sáng mạnh nhất , để có thể linh hoạt cung cấp năng lượng đến nhưng nơi đau yếu. Đó là ưu thế tuyệt đối của các ngón tay chân.
Ngón tay chân còn báo động mầm bệnh sớm hơn máy móc. Khi nắn bóp thấy ngón tay chân hơi đau mơ hồ, là tín hiệu kinh mạch ách tắc cần giải trược ngay thì tan mầm bệnh.
Như vậy 3 vị trí: đỉnh ngón và 2 bên gốc móng tay chân, là một tam giác vàng cho sức khỏe. Chỉ một động tác rất đơn giản nắn bóp vào 3 vị trí này, đã tác động toàn diện đến mọi chức năng quan trọng nhất: các kinh mạch chính, trung tâm não, khí huyết, thần kinh, năng lượng sinh học, lục phủ ngũ tạng. Như một mũi tên cùng lúc bắn trúng nhiều đích. Đem lại hiệu quả mạnh mẽ, có thể nhanh chóng giải ô trược trong một kiếp sống, thay vì nhiều kiếp chưa đạt được.
20 ngón tay chân được rèn luyện đúng đã trở thành 20 vị bác sĩ đông y giỏi vận hành khí và hiểu cơ thể hơn các thày thuốc bên ngoài. Chữa lành tận gốc bệnh, hiệu quả hơn thuốc.
Ngón tay chân trở thành “Chìa khóa khai mở cơ thể” để tâm quay vào bên trong cùng đồng hành với cơ thể, giúp định tâm chú ý vào bên trong, chấm dứt ý nghĩ miên man. Tâm nhanh chóng an lạc giúp đỡ cơ thể. Đây là bước chuyển tâm quan trọng nhất, mở ra những khả năng giác ngộ của Thân và Tâm. Năng lượng sạch làm cho tâm trong sạch, sáng hơn.
Ngón tay chân nào cần luyện tập nhiều nhất ?
Tuyến Yên là trung tâm não quan trọng phụ trách mọi hoạt động vật chất của cơ thể. Liên quan mọi bệnh.
Ngón chân cái có điểm phản xạ tuyến Yên ở giữa cầu thịt ngón chân cái. Thày đặt tên là điểm Trường sinh để luyện tập điểm Trường Sinh chữa suy thoái tuyến Yên, liên quan tất cả các bệnh. Hai bên dưới móng chân cái có Kinh Can, Tỳ là 2 kinh mạch quan trọng của hệ tiêu hóa. Chữa các bệnh gan, tụy, tiểu đường. Vì vậy ngón chân cái cần luyện tập nhiều nhất, từ 15 phút trở lên
Ngón tay cái có kinh Phế chữa bệnh hô hấp, phổi, họng, mũi, xoang mũi. Và huyệt Đại chùy ở dưới cùng đốt sống cổ, có thể với tay dễ dàng thải trược cho Đại Chùy.
Ngón tay út có kinh Tâm (tim), và kinh Tiểu trường (ruột non). Chữa bệnh tim mạch cần giải trược ngón tay út, và ngón nhẫn, ngón giữa trợ tim. Dùng tinh bột đạm Địa long làm tan cục máu đông, hỗ trợ đắc lực nhất chữa tim mạch
Ngón chân út có kinh Thận và kinh Bàng quang. Thận có vai trò quan trọng thanh lọc độc tố cho máu. Bệnh thận yếu thì toàn cơ thể bị nhiễm độc máu, kéo theo sự suy nhược toàn thân. Có dấu hiệu đau thắt lưng và đi tiểu bọt là chớm suy thận. Chữa kinh thận ở ngón chân út và huyệt Dũng tuyền ở điểm lõm 1/3 bàn chân, xem hình vị trí huyệt. Chữa Kinh Bàng quang chữa bệnh đái dầm, đái rắt, tiểu són…
Như vậy 4 ngón cái và ngón út, có vai trò quan trọng với trung tâm não bộ, tim mạch, mũi phổi hô hấp, gan, tỳ, thận. Và kinh mạch bệnh bị ách tắc nặng nhất. Là những kinh mạch cần luyện tập nhiều nhất.
Bài số 3 khai thông kinh mạch mới thấy sự thật bên trong cơ thể ngút ngàn ô trược, diễn ra hiện tượng xổ trược gay gắt. Cần biết trước để vượt qua. Mỗi đợt xổ trược là mỗi lần được vượt thoát một cảnh nghiệp. Nếu không khẩn trương luyện tập, thì một đời người chưa giải hết ô trược.
Khó khăn của việc giải ô trược, là khó khăn giải nghiệp, bị nghiệp tác động trái chiều kéo lại, làm tâm trí chán nản, bỏ cuộc. Nên người giải nghiệp phải có trí tuệ cao hơn nghiệp, có ý chí chính niệm mới có thể vượt qua lực cản của nghiệp. Như Đức Phật khẳng định “Tất cả những ai sinh về nước Cực lạc đều có tư cách bất thối chuyển”, là không quay lui mới có thể giải thoát ô trược, về đến Cội nguồn Cực Lạc
Cách khai thông kinh mạch một bàn tay 60 phút:
1–Thiền Hà Đào Thành 15 phút. Như đã hướng dẫn
2–Thiền kinh mạch 45 phút: Gồm Nắn bóp và Giải trược các đầu kinh mạch, và thiền như sau:
– Nắn bóp: Chạm 2 ngón tay vào 2 bên dưới cạnh móng tay chỗ có đầu kinh mạch. Một ngón đỡ phía sau. Nắn bóp nhẹ nhàng liên tục 36 lần. Rồi chuyển nắn bóp ngón tay tiếp theo tương tự, làm hết 5 ngón tay. Sau đó thiền 5 phút cho ô trược thoát ra.
– Giải trược : Chạm 2 ngón tay vào 2 bên dưới gốc móng tay chỗ có đầu kinh mạch. Yên lặng thiền 2-10 phút. Tâm chỉ theo dõi Hà Đào Thành thoát ô trược ra ngoài. Hà Đào Thành tiếp dẫn Nguyên khí vào kinh mạch và xoáy rút ô trược ra ngoài
Giải trược ngón tiếp theo, tương tự như trên. Giải trược hết 5 ngón tay là xong.
Ảnh nắn bóp, giải trược kinh mạch ở ngón tay.
Cần tập trung giải trược trọng điểm: Ngón tay cái 5 phút. Ngón tay út 5 phút. Các ngón khác: Mỗi ngón 2 phút. Kinh mạch bệnh tùy sắp xếp theo mức bệnh nặng nhẹ.
Khai thông kinh mạch một bàn chân 60 phút: Làm tương tự bàn tay. Phần giải trược trọng điểm: Ngón chân cái 15 phút giải trược điểm Trường sinh, kinh Can, kinh Tỳ ở bên cạnh. Ngón chân út 5 phút giải trược kinh Thận, Bàng quang. Kết hợp đặt tay giải trược huyệt Dũng Tuyền. Các ngón khác 1-2 phút. Kinh bệnh tùy sắp xếp.
Thiền đặt tay giải trược kinh mạch nào thì mang tên kinh mạch đó. Ví dụ Thiền Trường sinh, thiền kinh Phế, Thiền kinh Can…. Xem sơ đồ vị trí các đầu kinh mạch, cần ghi nhớ để áp dụng.
Thiền Trường sinh: Chạm ngón tay cái vào điểm Trường sinh và thiền. Duy nhất thiền Trường sinh chữa được suy thoái tuyến yên và cấp cứu tuyến yên. Ngoài ra, không có thuốc hoặc phương pháp nào chữa suy thoái tuyến yên.
Cấp cứu tuyến Yên: Khi bị kiệt sức, tắc thở, trúng cảm nhập tâm, cần nhanh chóng đặt tay Thiền Trường sinh cho đến khi khỏe, thoát chết oan. Và dùng tinh bột đạm Địa long để có sức tập.
Xem sơ đồ vị trí các đầu kinh mạch, ghi nhớ để luyện tập.
Chú ý : Trong tất cả các phần luyện tập giải trược, khai thông kinh mạch thì Tâm luôn theo dõi ô trược thoát ra Hà Đào Thành. Nếu chưa có cảm nhận hoạt động Hà Đào Thành, thì chú ý hơi thở ra vào.
4– Điều chỉnh bệnh: Cần thiền kinh mạch bệnh, và giải trược vùng đau bệnh.
– Mỗi ngày thiền kinh mạch bệnh từ 1-2h để giải ách tắc kinh mạch. Cần bố trí tập thêm buổi chiều. Bệnh nặng phải tập thêm buổi chiều, mỗi kinh bệnh cần giải trược 1-2h sẽ nhanh khỏi. Tùy từng bệnh nặng nhẹ mà giải trược nhiều hay ít.
– Giải trược vùng đau: Chỗ đau do ô trược tích tụ ở đó. Cần đặt tay giải trược: Chụm các đầu ngón tay vào chỗ đau, viêm sưng, u hạch. Tay thả lỏng không ấn mạnh. Thời gian 30-60 phút tùy bệnh nặng nhẹ.
Nếu có đá Tesctit thì 1 tay giải trược. 1 tay cầm đá 15 phút.
Đặt đá vào chỗ đau để giải âm khí 15 phút, sau tăng dần phù hợp. Thấy nhoi nhói đau là có tác dụng khai thông giải trược chỗ đó. Tập kiên trì sẽ giảm đau và hết đau.
Nếu bệnh do vi khuẩn gây ra cần uống thuốc Đông Y chữa viêm, diệt vi khuẩn, kết hợp luyện tập giải trược. Vi khuẩn là một nguyên nhân gây bệnh mãn tính, gày yếu, thiếu máu, viêm cơ tim, phong thấp, da dày sừng, ngứa, chân yếu đi xe lăn, nằm liệt, hoại tử từng vùng… Cần uống thuốc phòng diệt vi khuẩn.
Bệnh mãn tính còn do thiếu khoáng chất canxi, ma gie, kẽm.. Cần theo dõi, uống bổ xung khoáng chất mới chữa khỏi.
* Giải nghẽn thở: Các bệnh nặng phát sinh nhiều ô trược làm khó thở . Do các nguyên nhân :
– Do tắc kinh Phế: thiền kinh Phế từ 1h-2h, và giải trược khuỷu tay, cổ tay, sẽ thông thoáng hô hấp.
– Do kiệt sức mất Nguyên khí, sẽ suy giảm hô hấp hoặc tắc thở, cần cấp cứu tuyến Yên bằng Thiền Trường sinh 1h-2h.
– Do viêm xoang, cảm cúm, viêm họng viêm phổi: Thiền kinh Phế 1h-2h và xông mũi họng. Bệnh xoang mãn tính cần uống thuốc Đông y diệt vi rút vi khuẩn.
MỘT SỐ VỊ TRÍ KHÁC CẦN GIẢI TRƯỢC:
* Giải trược nách: Cơ thể cất dấu ô trược vào 2 bên nách (huyệt Cực tuyền), có mùi hôi ở đây. Nếu ô trược tràn vào vùng lân cận là ngực, vú, phổi, gây ung thư vú, phổi, não. Thường xuyên giải trược nách, sẽ thấy nhẹ nhõm dễ chịu. Ấn nắn tìm chỗ cộm cứng, hoặc hơi đau ở nách ngực thì giải trược ngay chỗ đó vài lần là tan mầm bệnh, phòng ngừa ung thư vú, phổi.
Nằm trên giường chụm 3 ngón tay đặt sâu vào nách và thiền cho thoát hết trược. Di chuyển sang vị trí bên cạnh giải trược tiếp. Hoặc đặt đá Tesctits vào nách và xung quanh nách.
*Gỉải trược cổ tay, khuỷu tay: Khuỷu tay và cổ tay có 6 kinh mạch chính đi qua. Và nhiều huyệt quan trọng. Thường xuyên giải trược cổ tay khuỷu tay, rất hiệu quả giải nghẽn thở, chữa đau sưng chân, tràn dịch khớp chân tay, và giảm đau bệnh.
Giải trược cổ tay: Nắm nhẹ cổ tay và thiền, ô trược sẽ thoát qua Hà Đào Thành.
Giải trược khuỷu tay: Bàn tay ôm lấy khuỷu tay, và thiền. Các ngón tay chạm lần lượt vào cục xương cùi trỏ, và điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối của đường chỉ khuỷu tay.
Bệnh về mắt: Khi có tuổi mắt bị lão hóa giảm thị lực. Do Nguyên nhân thiếu Nguyên khí. Chữa bằng thuốc ít hiệu quả.
Cách chữa mắt nhanh nhất là tăng Nguyên khí cho mắt. Đặt tay vào các vùng xương quanh mắt: gò má, trán, xung quanh hốc mắt. Và các điểm đầu, giữa, cuối của lông mày. Có đá Tectit thì đặt đá vào các vị trí đó. Giải hết ô trược thì mắt sáng đẹp, hết sụp mí. Mỗi khi mắt yếu lại đặt tay thì mắt khỏe lên, người già không cần đeo kính lão, không bị sụp mí.
Bệnh tai điếc: Bệnh tai điếc do lão hóa, thì tập công thức giải trược tuyến nước bọt và mang tai (bài số 4).
Ảnh giải trược khuỷu tay
THỰC HÀNH BÀI CẤP BA.
Sáng 4h: Thể dục 60 phút. Khai thông kinh mạch bàn tay phải 60 phút, gồm có thiền Hà Đào Thành, và Thiền kinh mạch. Như đã hướng dẫn
Tối 8h: Khai thông kinh mạch bàn tay trái 60 phút. Thể dục liên hoàn 30 phút. Thiền định 30 phút.
Tập luân phiên ngày hôm sau hai bàn chân, tương tự hai bàn tay.
Người bệnh nặng cần dành nhiều thời gian mỗi ngày khai thông kinh mạch 2 bàn tay, 2 bàn chân. Cần tập thêm buổi chiều để thiền kinh mạch bệnh, giải trược vùng đau.
Đi ngủ: Nằm thiền hít thở Đan điền. Giải trược cổ tay hoặc khuỷu tay, nách. Đặt đá chỗ đau.
Bất kể ngày hay đêm thấy ô trược bốc thoát ra, hoặc thấy khó chịu, phải dậy tập thể dục 1h cho ô trược thoát hết.
Nếu gặp khó khăn, thì đọc lại sách tập 1,2. Có thể trao đổi báo cáo thày giúp đỡ. Kết quả luyện tập tốt thì giúp người khác luyện tập theo sách. Thày giúp đỡ mọi người miễn phí không có lợi nhuận. Mọi người cần thương yêu giúp đỡ người khác, là giúp chính mình được rèn Tâm thiện.
Liên hệ thày qua email: sucmanhvothuc@gmail.com. Nếu không biết sử dụng email thì nhờ con cháu giúp đỡ, hoặc ra cửa hàng vi tính gần nhà đánh máy chuyển hộ.
Luyện tập 2 năm, thì chuyển bài số 4.
Vị trí 6 đầu kinh mạch ở hai bên gốc móng chân, cần học thuộc
- Kinh Tỳ: Chuyển hóa thức ăn, tạo khí huyết. Chữa tụy, dạ dày, đường ruột. Nối với kinh Vị, Tâm
- Kinh Can: Chủ tiêu hóa, bài tiết, cung cấp máu huyết, thúc đẩy khí. Chữa bệnh về gan, máu huyết, mật, ung thư, táo bón, da, mắt. Thông Kinh Đởm, Vị
- Kinh Vị: Chủ về tiêu hóa. Chữa bệnh dạ dày, tiêu hóa. Nối với kinh Tiểu trường, Đại trường, Tỳ
- Kinh Đởm: Tạo tinh chất mật, dũng khí, bản lĩnh. Chữa bệnh về mật, tiêu hóa. Nối với kinh Can.
- Kinh Thận: Chủ về bài tiết, sinh dục, tủy, sinh tạo tủy não, xương, trí thông minh. Chữa Thận, sinh dục, huyết áp cao, mắt, não, tủy, xương khớp, răng lợi. Nối Kinh Phế, Can, Bàng quang, Tâm bào.
- Kinh Bàng quang: Bài tiết nước tiểu. Chữa bệnh ở bàng quang, tiền liệt, tiểu tiện. Nối với thận.

Vị trí 6 đầu kinh mạch ở hai bên gốc móng tay, cần học thuộc
- Kinh Phế: Chủ hô hấp và khí, da. Chữa bệnh ở phổi, ngực, họng, da. Thông Đại trường, Vị, Can.
- Kinh Đại trường: Chủ về bài tiết, dinh dưỡng. Chữa bệnh ở ruột già, trĩ, táo bón, bài tiết. Nối Phế.
- Kinh Tâm bào: Bảo vệ kinh Tâm. Chữa bệnh ở Tim, thần kinh thực vật. Chữa bệnh âm. Nối Tam tiêu.
- Kinh Tam tiêu: Kinh bảo vệ phía ngoài các tạng phủ. Chữa bệnh ở tim, ngực, bụng, tai. Nối Tâm bào.
- Kinh Tâm: chủ về tim, huyết mạch. Bệnh ở Tim, ngực, thần kinh, huyết áp. Nối thông Tiểu trường.
- Kinh Tiểu trường: Tiêu hóa, hấp thụ tinh chất thức ăn. Bệnh ở ruột non, tiêu hóa. Nối Kinh Tâm

ĐOÀN THANH HƯƠNG.
NHÀ LỬA Ô TRƯỢC
Trích bài giảng của Đức Phật Di lạc, bằng Thông thiên học qua một người ở miền nam Việt Nam
thế kỷ trước, năm 1951-1952.
Ngày rằm tháng riêng- Nhâm Thìn. 20 giờ -24 giờ.
Nam mô chúng sanh Phật.
Con người mãi trầm mình trong bể lửa. Nhưng có ai biết mình đang bị nóng. Vì sức nóng đang thiêu đốt kia, nó không phải như lửa của thế gian. Nó từ từ cháy, nó cháy đến khi con người thấy được nó, tức là sự khổ, mà hiểu được sự khổ, là con người như điên, như dại. Không còn lương tri nữa.
Khi con người lãnh được những bản án của thế gian ban cho, nào là nghiệp vợ, nghiệp chồng, nghiệp con… cái gì mà loài người cho là sướng chính đó chính là nhà lửa. Nhưng có mấy ai đã hiểu được cái nhà lửa đó đang cháy ngấm ngầm. Rồi một ngày nào kia, nhờ ngọn đông phong, sẽ phất lên, và nó sẽ phừng lên. Khi đó ngọn lửa hồng bắt lên và than, bụi, bay lên nghi ngút. Chừng đó con người, mới biết là nhà của mình cháy. Phải chi lửa còn ngún, thì lo chữa đi, có đâu nhà bị cháy.
Dù là kiếp sống đó, nó phải chăng là vô ý thức của sự sống, con người lại nắm được cơ hội khó sống kia, mà phát minh ra Trí Huệ. Như vậy mới là con người, nếu kẻ nào sống bám mãi cái có, thì chính kẻ đó có một bộ óc đần độn.
Cái trí đần độn của con người, mà có ngày nào đó nó mở được, thì sự văn minh lại đi đến tột độ…
Như vậy, buổi hạ ngươn hạ màn thì con người lại bắt đầu tiến hoá theo Thánh Đức, phá vô minh bằng cách không còn nghĩ đến một cái tha lực, mà trước kia, sự tu còn hiểu rằng có kẻ giúp mình. Cái tha lực này do trí phàm phu xuất hiện, để lôi cuốn người này sang người kia. Và vì cái vô minh đó, mà sự tu mãi vẫn là sái. Bởi tu sái mãi mà kiếp trầm luân không dứt được.
Thì màn hạ ngươn đã sắp đến, con người cũng bắt đầu tự tu, tự giải thoát lấy nghiệp lực của mình.
Vậy, buổi Hạ ngươn, bần đạo xin nói với các người rằng, các hàng cư sĩ sẽ ra lập Thánh Đức Kim Thân với cái khả năng bất khả tính, là mãi mãi cái đạo phi thường trong vòng 5000 năm, để rồi bước sang cái Đạo khả đạo là Hư không đạo.
Ai đã hiểu được cái lý Hạ ngươn, thì nên sớm tỉnh, để cùng nhau hợp tâm phá cái mê cho nhau, bằng cách chỉ cho nhau những lổi lầm, thì sự tu học mới mau đem lại kết quả. Nhưng kẻ nào tự ái, không nghe, chính kẻ đó tự đưa họ lên cõi mặt trăng vậy.
NGŨ TRƯỢC LÀ GÌ ?
Minh-Đức. Chuyên gia Phật học.
Chú đang muốn nói về Ngũ Trược, nhưng lại thấy e ngại, bởi vì chủ đề này là cơ bản của Phật Học. Cái e ngại là vì Ngũ Trược là vấn nạn lớn lắm ! Không phải dễ trình bày, nhưng nói nôm na thì ai cũng biết. Biết mà không giải nạn được thì cũng như không biết. Giống như người ta biết rượu, ma túy và sắc dục là nguy hiểm và rất tai hại, nhưng đã té ngã vào đó rồi thì dù biết là có hại cũng không ra được. Không ra được thì biết cũng như không ! Người Phật giáo nào mà không biết Ngũ Trược là cỏi sống của mình, nhưng nhận thức đúng và tu giải thoát được cái ách nạn của Ngũ Trược thì mới thật là Phật tử. Bằng không thì xưng là Phật tử mà thật sự chỉ là đứa con bỏ đi hoang và lang thang lận đận trong Ngũ Trược chứ chưa trở về nhận gia tài của cha là ông trưởng giả giàu có vô lượng. Người còn sống trong “Ngũ Trược” mà thấy cha mình là đức Như Lai thì bỏ chạy và kinh sợ vùng vẩy chứ không dám đến gần, bởi vì thân tâm hạ liệt, đã quen với sự mê mờ trong Ngũ Trược, nên biết cũng như không. Giống cái anh ghiền ma túy, biết rất rỏ hơn ai hết về khổ nạn của mình mà không chịu từ bỏ, vì cái thói quen đã là chính mình rồi, còn đâu mà bỏ được. Cũng như vậy, ai cũng biết ngũ trược là ác thế mà không thể thoát ra. Nếu trình bày vấn nạn cơ bản này thì rất khó khăn, vì chính người trình bày cũng là người của ngũ trược, chưa giải ngộ được thân phận của mình.
Nói đơn giản thì Ngũ Trược là năm cái : Kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược và phiền nảo trược. Năm cái khổ trược này chính là Nghiệp báo của chúng sanh cỏi Ta-Bà. Chử Ta Bà có nghĩa là kham nhẫn chịu đựng, chúng sanh cỏi Ta bà thì rất cứng đầu và kham nhẩn chịu đựng Ngũ Trược. Bởi vì đây chính là Nghiệp báo của chúng sanh. Nghiệp báo là gì ? Chính là Y-Báo và Chánh báo. Y-báo là thế giới, chánh báo là căn thân. Có Y-Báo là có Chánh báo như thân phận của cá và nước. Con cá và nước chính là Y-báo và Chánh báo. Gọi chung lại là Nghiệp báo. Mà Ngũ Trược chính là Nghiệp Báo của chúng sanh. Thái tử Sỷ Đạt Ta sanh ra ở vị trí thái tử mà vẫn không bị ngũ dục tuyệt vời của một kiếp người mơ ước, làm cái lồng giam nhốt. Lịch sử chứng minh đâu có ông thái tử nào mà lại không chịu làm Vua đâu ? Chỉ có Phật thị hiện mới làm nổi cái vùng vẩy để thoát ra ngũ dục.
Nhận thấy cái thân phận khổ đau của cái Nghiệp báo, nên phải chịu cái khổ nạn của ngũ trược ác thế, mà thái tử đã lên đường và đạt đạo giải thoát khỏi ngũ trược ác thế. Vì vậy, ở kinh A-Di-Đà, chư Phật mười phương tán dương công đức của Đức A-Di Đà thành đạo của nước Cực Lạc ở phương Tây, mà cũng tán dương Đức Thích ca đã thành đạo ngay nơi cõi ngũ trược ác thế. Tịnh Độ phương Tây của đức A-di-đà là trang nghiêm bởi các thiện nhân và cỏi nước thanh tịnh. Còn cỏi Ta Bà là uế độ với ác nhân có cỏi nước là uế độ, vì là 5 trược có : Kiếp số ngắn ngủi bất tịnh. Kiến giải ô trược do cái thấy ô trược. Chúng sanh nhơ uế bất tịnh nên gọi là chúng sanh trược. Mạng trược thì do chúng sanh ăn nuốt nhau mà sống, và Phiền nảo trược là do chúng sanh chấp ngã nên sanh khởi tham sân si mạn nghi phiền nảo. Ngay nơi Ngũ Trược thống khổ mà thành đạo nên được chư Phật mười phương tán thán ca ngợi.
Nói tóm lại, Ngũ Trược chính là cái Nghiệp báo của chúng sanh, căn thân và thế giới chính là Nghiệp báo. Chánh báo thế nào thì Y báo thế đó giống như cá và nước, nếu nước ô trược thì cá khốn khổ, nếu cá ô trược thì cũng làm nước ô trược. Cá lăn đùng ra chết thì nước cũng bẩn thỉu vì cá. Cái vòng luẩn quẩn luân hồi của ác nghiệp là vô cùng tận, vì cái vô cùng tận này mà Bồ Tát Địa tạng phải phát nguyện vô cùng tận. Chỉ có bồ tát mới kham nhẩn nổi, còn chúng sanh của ngũ trược ác thế thì chỉ như người hôn mê. Chú ví mình cũng như bợm nhậu chưa bỏ được rượu mà khuyên người bỏ rượu thì đó là chuyện tiếu lâm hài hước. Vì vậy còn đang e ngại chưa biết có nên nói hay không cái đề tài “Ngũ Trược” thì đột nhiên Tammydan hỏi, như vậy đúng là duyên lành, giúp cho mình liều lỉnh nói ra cái mà mình còn đang lâm nạn. Tuy nhiên đây chỉ mới là định nghĩa còn nhiều thiếu sót lắm. Đây là đề tài lớn mà mình chưa thể nói nhiều hơn đâu. Tạm bỏ qua ở đây vậy…
![]()
