Cẩm nang luyện tập phòng chống ô nhiễm môi trường. " Nếu chúng ta làm sạch cơ thể hàng ngày, các tế bào có thể duy trì lâu hơn" - Dr.Alexis Carrel - Giải thưởng Nobel 1912

1. TU LUYỆN THÂN TÂM.

TU LUYỆN THÂN TÂM.

Tu luyện Thân Tâm trước hết cần tìm hiểu tâm của mình thế nào?. Ai cũng tin tưởng rằng tâm trí suy nghĩ  hành động đúng để bảo vệ  ta.  Nhưng bạn không thể ngờ rằng tâm trí ẩn dấu một bí mật rất lớn. Nó chịu sự tác động của năng lượng xấu ô trược nghiệp lực, và năng lượng sạch, cùng chi phối tâm trí.

Năng lượng xấu rất mạnh, bởi nghiệp lực tích tụ nhiều kiếp sống, và  năng lượng ô trược của xã hội  thâm nhập vào cơ thể. Sự kết hợp của nghiệp bên ngoài và bên trong, rất mạnh mẽ lấn át lý trí. Nó điều hành tính tham lam, sợ thiệt, sợ mất mát, thích nghe lời giả dối hoa mỹ có lợi. Tiếp thu cái xấu rất nhanh. Ngoan cố bám chặt nghiệp lực, không thấy sự thật. Dễ tan vỡ niềm tin.

Năng lượng sạch thì hiếm hoi yếu ớt, bị đè nén dập vùi, khó ai vượt qua nghiệp. Nên tâm trí chịu sự điều khiển bí mật của nghiệp. Đó là cuộc chiến không cân sức giữa thiện và ác đang diễn ra trong tâm thức chúng ta.

Trong xã hội ô trược thì tâm trí sẽ hấp thụ ô trược. Tâm có bản photocopy kiến trược-tà kiến. Chẳng hạn những học thuyết đề cao vật chất, thói cao ngạo  coi thường lương tâm, coi thường Tạo hóa. Thói tham ăn, tham tình, tham lợi, tham tiền, tham vàng bạc, tham danh tiếng, làm lu mờ lý trí và tình yêu thương chân thành. Các cuộc chạy đua lợi nhuận, sát phạt nhau tàn khốc, kẻ khóc người cười..… Tà kiến đó  ăn sâu vào tâm trí, trở thành thói quen  bản năng thu hút ô trược về mình. Không biết  cái tai họa đang phải cõng đống rác ô trược  để rồi phát sinh bệnh tật, phiền não. Tâm ô trược gọi là tâm vô minh.  Nó nảy ra những lý luận xảo quyệt  khiến bạn thấy mình luôn đúng, người ta sai. Nó không bao giờ cho bạn biết sai lầm của mình, để bạn yên chí đi theo ô trược tăm tối. Bị dòng đời cuốn đi, mà không hiểu đi đâu. Hoàn toàn bị động rồi sa hố đau khổ. Cũng không hiểu vì sao  khổ, rồi kêu oan, oán giận, mất niềm tin, càng thêm phiền não. Quả là không dễ hiểu tâm trí  lúc đúng lúc sai.

Tâm là vùng đất thiêng, đừng để ai gieo vào hạt giống độc. Cách tốt nhất  là quay vào bên trong  nhận biết con người thật của mình. Tu sửa  từng chút một, từng hành động nhỏ, từng suy nghĩ sạch, từng cảm xúc thiện lành. không tiếp xúc thông tin tiêu cực..  Nếu giao du quá nhiều dễ bị hút vào nơi  ồn ào,  cả nể, tạo nghiệp thị phi. Thiếu thời gian tu sửa bản thân.

Phương pháp Vô thức tu học về sự sáng, là học ánh sáng Đức Phật A Di Đà. để xóa tà kiến sai lầm, hành động sai lầm.Theo minh triết gọi là Thanh điển Prana. Rèn luyện nếp sống thuận  quy luật tự nhiên, là kinh vô ngôn siêu việt của Tạo hóa:

–  Quy luật cân bằng âm dương: Là quy luật vĩ đại nhất của Tạo hóa. Âm và dương là hai hình thái  có tính chất trái ngược nhau, có tác động  hút đẩy lẫn nhau, tạo ra động lực cho sự  vận động  và phát triển sự sống. Là luật quy định môi trường sống phải  đầy đủ tỷ lệ âm dương của Tạo hóa ghi sẵn trong nhân tế bào ADN của mỗi loài khác nhau. Gọi là luật cân bằng âm dương. Nếu môi trường sống không đáp ứng đầy đủ quy luật  cân bằng âm dương thì  sự sống tàn lụi, sinh bệnh tật. Không đủ sức khỏe để tu luyện. Như cây trồng trái vụ bị còi cọc tàn héo. Phương pháp  Vô thức đã thực hiện luật cân bằng âm dương. Rèn luyện Thân Tâm  được  gia tăng năng lượng dương, thanh lọc  ô trược âm, hết bệnh tật. Hưởng Niết bàn tại thế, Thiên đường tại thế.

Quy luật tình thương: Năng lượng Prana là năng lượng tình thương của Tạo hóa luôn giúp đỡ muôn loài phát triển tươi tốt. Thiếu năng lượng tình thương của Tạo hóa thì sự sống tàn lụi. Prana là động lực phát triển tình thương và  trí tuệ sáng tạo của con người.  Phương pháp Vô thức  đã nhận được muôn vàn ánh sáng tình thương Prana, tạo phước đức giúp đỡ nhân sinh phát triển tình thương vô biên của Thanh điển Prana.

 –  Quy luật Vô thường: Mọi thứ trong vũ trụ đều vận động không ngừng thay đổi, không có gì tồn tại mãi. Có sinh là có diệt. Phải biết chấp nhận quy luật vô thường, tất yếu xảy ra sự chia ly, mất mát, cái chết,  không ai tránh được. Giúp con người tỉnh táo, điềm tĩnh, không hoảng loạn mới tìm ra lối thoát.

–  Quy luật Vô ngã:  Không có ai đơn độc một mình.  Ai cũng có hào quang năng lượng tỏa rộng trong không gian, có tác động vào mọi thứ xung quanh. Dù không ai biết, vẫn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến xã hội. Cần có trách nhiệm với từng suy nghĩ, lời nói, hành động của mình. Trước hết không nói dối, không làm việc ác gây thiệt hại người khác.

– Luật Nhân Quả (Karma): Luật Nhân Quả thể hiện sự công bằng tuyệt đối của Tạo hóa, để giữ gìn trật tự vũ trụ. Không cho phép cái ác được lấn át hủy diệt tình thương yêu. Để muôn loài được cùng chung sống. Luật Nhân Quả giúp con người bớt hung hăng độc ác, có trách nhiệm với từng việc làm của mình. “Gieo nhân nào, gặt quả nấy”. Luật Nhân quả ghi nhận mọi nỗ lực của người hiền,  ghi tội của nghiệp ác.  Đức Phật cảnh báo: “Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy”. (Kinh A Di Đà).

Đó là những quy luật  Tạo hóa đã vận hành cuộc đời ta, mà không ai tự biết. Cần có minh sư chỉ dẫn.

Minh Sư là người dạy cho đệ tử nhận ra vị Thầy bên trong của mình. “Minh sư là người đã nhớ lại Cội nguồn. Và do Tình thương bao la họ đã chia sẻ hiểu biết này với bất cứ ai thành tâm cầu đạo, mà không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Họ cúng dường tất cả thời gian, tài sản riêng tư và sức lực bản thân cho Thế giới. Khi chúng ta đạt đến trình độ của Minh sư, chúng ta không những biết được Cội nguồn của bản thân, mà còn giúp được người khác biết giá trị chân thật của họ. Những ai đi theo sự dẫn dắt của Minh sư sẽ nhanh chóng thể nghiệm được một Tân thế giới, đầy Chân lý, Toàn Thiện, và Toàn Mỹ. Tất cả Chân Thiện Mỹ bên ngoài là để nhắc nhở  chúng ta đến cái thế  giới thật bên trong…Chỉ có một thứ có thể thỏa mãn linh hồn chúng ta là Chủ nhân ở  bên trong bản thể con người”

Các vị Phật đã tu luyện Đắc Đạo, có bộ óc siêu phàm, có Thiên nhãn thông, Lậu tận thông, mới soi thấy căn cơ nghiệp lực tận cùng thời mạt pháp rất đau khổ.

TỰ CỨU MÌNH đó là lời kêu gọi cứu thế của Trời Phật, cần giải nghiệp để Tự cứu mình theo đúng luật Tạo hóa cân bằng âm dương, nhân quả…Không ai làm thay được. Để cân bằng âm dương, thì phải đào thải cái dư thừa, là  thanh lọc ô  nhiễm độc tố, chính  là giải nghiệp lực đang đè nặng đời ta.

Con đường giải ô trược đã được nhắc đến từ lâu. 5000 năm trước các nhà hiền triết Phương Đông chỉ rõ thủ phạm ô trược nghiệp lực gây ra nỗi đau tinh thần và thể xác.  Việc thanh lọc ô trược được các bậc Đại Trí Huệ tìm hiểu và rèn rũa từ lâu đời.

Đức Phật Thích Ca là Đức Phật Thế tôn trên Trái đất, đã chỉ cụ thể ngũ trược là 5 loại nghiệp bủa vây đời người, là nguyên nhân của mọi khổ  đau bất hạnh. Sau 49 năm giảng Đạo lý Đức Phật Thích Ca đúc kết  phải quay vào bên trong để tu sửa: “Tham ái là nguyên nhân của tất cả bất hạnh. Mọi vật sớm muộn cũng sẽ biến đổi, đừng nên bám víu vào bất cứ cái gì. Tốt hơn hết nên dốc lòng thanh lọc tâm trí. Hãy tự mình tinh tấn để đạt được giải thoát. Các vị Như Lai chỉ là người chỉ đường.” Đó là triết lý thoát khỏi mọi cạm bẫy giả dối để tu sửa tâm thoát khỏi sai lầm của “Tham, sân, si, mạn,  nghi, ngã, chấp, thủ”.

Đạo Phật 2500 năm thuyết giảng tu tâm đã kìm hãm cái ác giúp con người hướng thiện.  Và tiên tri có Đức Phật Di lạc thực hiện giai đoạn tiếp theo.

Đức Phật Di Lạc là Đức Phật Thiên tôn trên Trời, đã  có 10  bài thuyết giảng để tu sửa Thân và Tâm. Chứ không phải có tu tâm mà thành quả tu

“Đức THÍCH CA MÂU NI với ta đã nguyện: Ngài nguyện đi trước dọn đường để lập LONG HOA ĐẠI HỘI. Ta là kẻ đến sau, để cùng với ngài phán xét”. ”Mỗi lần quả địa cầu nào sắp thuần dương là có Ngài, có Ta. Ngài đi trước, ta đi sau. Ta gánh nặng của Ngài để lại từ Vô thủy vô chung, mà cũng vì lời nguyện mà ta phải gánh đó. Mà Ngài cũng vì lời nguyện đi trước dọn gánh nặng cho ta”.

Với  ngôn ngữ ngắn gọn sắc bén của vị Phật Thiên Tôn có kinh nghiệm xuyên qua  các chu kỳ trái đất rung chuyển. Luôn có sự hiện diện của Đức Phật Di Lạc giúp đỡ chúng sinh lúc đau khổ nhất. “Bần đạo diễn lại cảnh thuyết Pháp về Phật đạo để cùng nhau nhớ lại thời kỳ đó, mà kẻ đậu người rớt, bởi sự không cần mẫn tu hành”. “Mọi người có mặt hôm nay nên chủ tâm nghe lại một thời pháp từ 10 tỷ năm về trước tại quả địa cầu 67, trên chúng ta một bậc, khi đó chúng sanh cũng nghe như ngày hôm nay thời pháp để giải cứu vi tế BỒ TÁT còn vướng lấy cái thương nhầm chỗ, cái ghét không đúng chỗ”.

Đức Phật Di lạc đã chỉ ra sai lầm của chúng sanh.  Là một việc cực kỳ khó khăn chưa từng ai làm được.

“Tu thời đông mà không ai đắc, là bởi nhiễm cái ác trược kia, rồi khuyên người, người không nghe“

“Cái biết của chúng sanh là : Biết xuyên qua những sự vô minh che lấp, chớ không phải biết bằng TRÍ HUỆ, cho nên chúng sanh mãi khổ vì cái biết”. “Vì cái BIẾT VÔ MINH, nên mải thích hợp với cái VÔ MINH, dù có ai muốn xé dùm cái VÔ MINH cũng không thể nào giải được”

“Nếu ngươi là tu sĩ, một lời vọng ngữ khi giảng đạo, sẽ sanh vào vạn nẻo ác”.  “Vì chưa thấy cái khổ, cho nên lấy vật chất làm đầu, lấy vọng tâm làm chính, lấy hình tướng là căn bản”.

“ Vì cái Tham vọng cá nhân của ngươi quá to, muốn cho Thiên hạ về với ngươi. May là ngươi chỉ là một Pháp sư thôi, nếu ngươi là một vị Lãnh tụ của một Quốc gia, ngươi sẽ gom thâu lục quốc tế về với ngươi, thì sanh ra  biết bao nhiêu khổ cho chúng sanh vì nạn binh đao.

“Cho nên lắm kẻ tu mà không thành ở chỗ còn lớn cái ta, mà cái ta này là cái ta phàm phu”

“Cái gì do lòng tham vọng sẽ ngã xuống, để thay thế cho những cái tự nhiên nó lên”.

“Buổi hạ ngươn lắm chông gai, và hầm hố, nếu các ngươi không biết thấy bằng mắt Trí Huệ, là sẽ đi đến chỗ mắt không tròng nghĩa là mắt mù vậy. Vô phương cứu chữa những bịnh không phải bịnh, những thuốc không có thuốc….làm  gì còn TRÍ HUỆ để xem xét được cái của mình hay cái của người ta”.

Đức Phật thấu hiểu nỗi khổ vô cùng tận của con người:

“Khổ vô cùng khổ, cho đến nỗi các chư Thánh, Tiên, Phật phải chau mày vì cái khổ của nhân sanh đã gieo“.

“Và trong chỗ khám đường, trong các bệnh viện, những cảnh khổ hàng ngày đã thấy, đều là chính bản thân mình đã bị giam hãm nơi chỗ khổ đó.

“Sắp bắt đầu, mở một màn rung chuyển toàn thể nhân loại, những điểm mà nhân loại chưa từng thấy hoặc nghe”.

“Mà không phải các ngươi khổ một mình, bịnh khổ đó lây đến Ta nữa, thành Ta phải xuống đây để giải cái khổ cho các ngươi”.

Giải pháp giải khổ cho chúng sinh. Đức Phật Di lạc chỉ dẫn cặn kẽ những điều con người chưa từng nghĩ tới:

“Sứ mệnh của PHẬT DI LẠC là sẽ hoàng hóa toàn thế giới một nhịp một nhàng không còn nhiều mối đạo như ngày hôm nay nữa. Khi Đức DI LẠC ra đời  loài người sẽ sống một cuộc đời an lạc, mọi loài là Thánh, dù ai dữ cũng hóa hiền, dù câu mâu đến đâu con người cũng hoàn lại NHƯ LAI TÁNH” . (Thông thiên học của Đức Phật Di Lạc năm 1952)

“Chúng sanh tưởng là Tu rồi về Niết bàn hưởng tọa cái cảnh tưởng tượng như một bức tranh đẹp. Không dè ta đến với các ngươi để hợp tác với các ngươi lập THIÊN ĐÀNG TẠI THẾ”.

Phải chăng Đức Phật Di lạc sẽ độ trì cho  người dữ trở thành hiền?  Ngài không độ cho ai cả, mà đưa ra Giải pháp thực hành, giúp con người tự tu tự giải nghiệp mà  trở nên hiền hòa.

“Ta đến đây không độ cho các ngươi, mà TÌM GIẢI PHÁP nào cho đúng với cái Đại lợi mà ta nói ra, để tùy căn cơ mà GIẢI ĐỘC cho các ngươi”. “Ta là người đã hết nợ, các người còn nợ gì chưa trả được, dù là nợ đó khó đòi đến đâu, Ta cố gắng để tìm GIẢI PHÁP mà giúp cho các người trả cho rồi”

“Không còn là cái Bí pháp chơn truyền nữa, mới mong giải thoát được”.

Nói về sự giải khổ, thì con nguời phải giải cái nghiệp lực của mình. Sanh nghiệp lực là do sự sai khi ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi đó. Nếu không biết giải, tức là mỗi giây đồng hồ nó sanh ra không biết bao nhiêu tội ác”.

“Đã có vay thì phải ráng mà trả, đừng thở than nhiều hay ít. Ai chịu đựng nổi thì cứ trả, trả rồi sẽ thành, đừng vọng tâm lúc đang trả. Kẻ nào nhẹ nhàng kẻ đó trả rồi. Kẻ nào còn nặng nề, là kẻ đó chưa trả rồi”.

“Con người lại nắm được cơ hội khó sống kia, mà phát minh ra Trí Huệ. Như vậy mới là con người. Nếu kẻ nào sống bám mãi vào cái không có, thì chính kẻ đó có một bộ óc đần độn. Cái trí đần độn của con người mà có ngày nào đó mở được, thì sự văn minh lại đi đến tột độ”.

“Con người phá vô minh bằng cách không còn nghĩ đến một cái tha lực, mà trước kia, sự tu còn hiểu rằng có kẻ giúp mình. Cái tha lực này do trí phàm phu xuất hiện, để lôi cuốn người này sang người kia. Và vì cái vô minh đó, mà sự tu mãi vẫn là sái. Bởi tu sái mãi mà kiếp trầm luân không dứt…Thì màn hạ ngươn đã sắp đến, con người cũng bắt đầu tự tu, tự giải thoát lấy nghiệp lực của mình”.

“Không có vị nào độ cho vị nào”.  “Không có ai thành Phật rồi tu giùm cho chúng ta cả.  Thì tự nhiên cũng thấy không cần biện minh ra, thử hỏi Đức Thích Ca, Đức Chúa Jesus Christ có ai thấy hai vị Thánh Nhân này tu giùm cho ai chưa ?

“Bởi chữ Đạo con người không Tri nguyên được nó bởi đâu mà có cái Đạo“

“Không khó như các ngươi tưởng mà mải lo Đông, lo Tây, chạy đầu này sang đầu nọ để tìm thày học Đạo. Đạo là do nơi cơ thể của con người, chớ không ngoài cơ thể con người.” (Thông thiên học của Đức Phật Di Lạc năm 1952)

“Nói đến Đạo, thì không hành không bao giờ tới”

“Là tự cứu lấy mình, rồi mới  cứu lấy người”.

“Học là phải TRI NGUYÊN cái chưa biết”.

“Vì sự sống còn của con người mà phải học tu trong cơ thể con người . Nếu các ngươi NHẬN THỨC BÊN TRONG được, dòm vào cái bên trong, thì cái bên trong là cái mà các ngươi đã tìm, nào là Thầy, nào là Kinh, là Sấm đó”…

“Như thế cuộc là điềm báo trước cho chúng ta thấy có cuộc biến thiên sắp đến, mà con người vẫn mãi lội trong danh lợi và tình. Thì mặc ai lội với bơi, chúng ta kết tinh với nhau để xây đắp một đời mới đầy đủ những kẻ hiền đức”.

“Khi con người đã tỉnh, thì mọi việc dễ dàng. Trái lại nếu con người chưa tỉnh thì dù có hào quang chiếu trước mặt họ cũng không tỉnh”.

“Khi phá được cái NGU của mình, thì không còn ai là ngu cả. Vì chưa biết mình là ngu, nên còn tự cao tự đại cho mình là Thánh, còn bao nhiêu kẻ khác là phàm phu tục tử, chính khi đó mình là kẻ NGU ĐỘN nhứt”

“Học là phải TRI NGUYÊN cái chưa biết, chớ không phải học thuộc cái của người ta nói lại”.

“Bởi vậy cho nên ai đã biết TRI NGUYÊN, thì đó đã là vị Phật tương lai rồi, và cũng có thể là vị Phật hiện tại nữa”.

“Các ngươi chuyển được lục căn, chuyển sang lục trần, chuyển thành lục đạo, đều do BÊN TRONG các ngươi tất cả.

“Nếu các ngươi muốn trở thành Như Lai các ngươi phải thấy BÊN TRONG các ngươi, vì nhờ những cái BÊN TRONG mà mở ra Bát âm (thành Phật)”.   “Ta TRI NGUYÊN cái biết vô tận vô biên kia để GIẢI ĐỘC cái biết vô minh”

“Thân thể con người cũng vậy. Cái đầu là cái hồ nước chánh, nếu nó không phân phối đầy đủ thập nhị nhân duyên cho cơ thể, thì cơ thể phải đau. Chỗ nào đau, là chỗ đó bị tê liệt sự phân phối của Thần kinh hệ.

Tay chân nhức nhối, là hệ thần kinh chỗ đó bị tê liệt. Mắt đau nhức là Thần kinh hệ không chiếu ra nơi đó. Và những cơ quan nào đau, cũng do Thần kinh hệ không chiếu ra nơi đó được, vì nó đã bị tê liệt bởi sự Tham Sân Si (ô trược). Vì tam độc này đã diệt cái Thần kinh hệ. Chỗ nào có Tham Sân Si đến, là chỗ đó sanh đau, có ngày sẽ bị hoại, phải cưa, mổ sẻ chi đó”

“Từ mỗi ngón tay, ngón chân đều là bộ máy của Trung tâm Thần kinh, do đó khi con người tu chơn chánh, rồi dùng tay rờ mó vào chỗ nào đau của bệnh nhân thì rờ đâu hết đau đó. Bởi trung tâm Thần Kinh hệ đã Thanh tịnh không còn Tam độc nữa, nên khi rờ vào chỗ đau thì hết đau. Không khi nào bình điện chúng hết, vì cơ thể đã thanh sạch”

“Nhưng khi nào tu mà vọng tâm, thì chính lúc đó chữa bệnh, bệnh lại thêm”

“Trung tâm thần kinh hệ gồm BỘ NÃO, TIỂU NÃO, HÀNH TỦY. Ba cơ quan này có trách nhiệm tẩy não những cái gì uế trược để con người tu chơn thành một vị  thánh nhân. Ba cơ quan này có trách nhiệm thu uế trược để con người tu chơn thành  ngạ quỷ súc sanh, vì kẻ này tu mà còn làm sái.”

HỆ  NÃO TỦY là căn bản nhứt, như là một cái nền nhà, nếu các ngươi không thành tâm giữ vững cái Hệ não tủy kia thì không bao giờ các ngươi thành Chánh đẳng Chánh giác được”

“Vậy xin nói rõ, là Trung tâm thần kinh hệ là Chủ nhơn ông của cơ thể, là Tiểu vũ trụ, là con người thật, biết được, hiểu được, thấy được, làm trúng, làm trật, đều là do nơi Trung tâm thần kinh hệ tất cả”.

“Khi sự ăn uống quá độ thì ngũ uẩn bên trong phối hợp với bên ngoài để hành cái xác thân… Vì sự ăn mà sanh ra các chứng bịnh. Vì hiện tại là đang mê. Cho nên khi tỉnh thì biết những món ngon kia dù có cho rằng ngon cũng không dám ăn”.

“Tại làm sao mà đau. Tại vì ăn mà ra. Nếu hiểu được như vậy con người không còn đau. Mà những kẻ ăn trai trường còn tính sự dâm dục thì lại càng tai hại nhiều hơn nữa. Là vay thêm nhiều chứng bệnh khi bị kẹt trên con đường dâm ô”

“Khi mà con người có đủ LÝ TRÍ rồi chính là cảnh THIÊN ĐƯỜNG mong ước từ lâu đã xuất hiện ra.

”Đến khi Hạ ngươn hạ màn thì có hằng hà sa số BỒ TÁT thành Phật”

“Chính Ta sẽ lập Đạo Tràng để dạy đạo Hư không cho các vị Phật tương lai”

“Đừng nên khinh suất sự thành quả kỳ này, vì kỳ này là kỳ chót. Nếu các ngươi mà không tự tin, tự phá ngã thì cũng tự xuống, tự đọa, tự diệt lấy mình.”

“Là giai đoạn khẩn cấp vô lượng vô biên, nếu các ngươi không vì các ngươi hay bần đạo đây, thì phải bỏ xác trước ngày biến thiên. Tu là phải sống chớ không phải tu là chết để lập Pháp về Niết bàn là những điều mộng mị quá xa vời”

“Đến khi quả Địa cầu này sắp thuần dương thì sức nóng ngày càng nhiều hơn, như một cây đèn sắp tắt nó sẽ phừng lên, mới bắt đầu tắt…Thì sức nóng đó sẽ làm cho con người chịu không nổi mà phải sanh ra nhiều chứng bịnh, chết rất nhiều. Nếu con người tỉnh, thì chỉ có cách là phải ăn những rau cải, cùng các loại đậu, là những thực phẩm thuần dương, như gạo lứt và các loại trái cây, giúp cho cơ thể nhẹ nhàng không sinh ra bệnh hoạn. Ăn cũng là dịp may để trị các chứng bịnh vì bởi thịt cá mà sinh ra”.

“Tất cả các pháp đều xuyên qua sanh chúng bịnh. Nếu không định được thì chưa phải là pháp”

“Xuyên qua những thời pháp để KHAI MỞ CƠ THỂ, thì có lẽ quý vị đạo tâm đã nhận thức được đâu là lý Siêu thoát”.

VẠN PHÁP QUY NHẤT của Đức Phật Di lạc. Là thực hành 8 giai đoạn tu thành Phật, như sau:

– “ Giai đoạn 1: Là đi đứng nằm ngồi Niệm Phật. Phá cái ngã đi đứng nằm ngồi.

–  Giai đoạn 2: Khử trược lưu thanh bằng  ăn uống.

– Giai đoạn 3: Hành pháp môn nấu bầu âm dương, và thở theo vô vi pháp để tinh khí thần quy tựu lại.

– Giai đoạn 4: Dùng tư tưởng tập trung vào chỗ không, để nó tỏa ra khắp chỗ nào nó trụ mà không trụ, mới là trụ

– Giai đoạn 5: Bế hẳn cái cửu khướu của mình, và bế hẳn cái cửu khiếu bên trong nằm tại trái tim.

– Giai đoạn 6: Tinh khí thần đã đầy đủ, tề tựu về Hỏa hầu, và  nó chạy lên Nê Hườn Cung là ngay cái đỉnh đầu. Các rễ nhỏ nhứt của Thần kinh hệ, nhờ dịp Khai mở Nê Hườn Cung này, mà nó thu hút điển quang bên ngoài vô trong để làm một CÁI MÁY LỌC tốt vô cùng. Là pháp môn Đốn giáo, tu tắt để khai mở rất lẹ làng, cho đời Thánh đức sắp đến.

– Giai đoạn 7: Khi Nê Hườn Cung đủ thu hút điển tiên thiên, thì nó bắt đầu vận chuyển ra trước trán để mở luôn cái khiếu Lậu tận minh là Huyền quang khiếu

– Giai đoạn 8: Trở thành sự sáng đã có, vị Phật này phải đủ sức chịu đựng với mọi thứ khảo đảo.

10 bài giảng của Đức Phật Di Lạc đã có từ thế kỷ trước. Nhưng chìm trong im lặng vì không ai bước ra khỏi thế giới ô trược, để học được cách Giải độc cho cơ thể.

Gần 100 năm sau đã ra đời phương pháp Vô thức, thành công khai mở Nê Hườn Cung và Giải độc cho cơ thể, tự chữa lành bệnh. Trùng hợp với giai đoạn 6 của Vạn pháp quy nhất.

Tất cả các bài tập Vô thức đã thực hiện “nấu bầu âm dương”.  Nhờ phối kết hợp giữa Thiền động và Thiền tĩnh. Kết hợp giữa Vận động là dương, yên tĩnh là âm. Đã cân bằng âm dương một cách sâu sắc nhất. “Nếu ngồi một chỗ mà Thiền thì bộ máy kia không phát ra sự chuyển động của nó. Như một chiếc xe hơi mãi rồ máy mà không lăn bánh thì cũng bị đứng mãi một chỗ thì những người ngồi trên xe không đi tới nơi”.

Bài tập số 2 đã Khai mở Nê Hườn Cung thành công. “Để làm một CÁI MÁY LỌC tốt vô cùng. Là pháp môn Đốn giáo, tu tắt để khai mở rất lẹ làng, cho đời Thánh đức sắp đến”.

Bài tập số 3, 4 thực hành các  phép  thiền đặc biệt:  thiền Hà Đào Thành, Thiền Kinh mạch, Thiền Nguyên khí, Thiền Trường sinh. Để khai thông làm sạch  Hệ thần kinh não bộ, là việc quan trọng nhất của việc tu luyện. Mỗi phép thiền có một vai trò cần thiết, đúng như  Đức Phật Di Lạc diễn tả:

“Mỗi lần thiền là điển quang từ ngoài chiếu vào trong, có phải chắng là các ngươi rút điển quang bên ngoài để nuôi ngũ ấm của các ngươi chăng ? Đó là thiền bất luận ngày giờ lúc nào bên ngoài thân đều cũng có điển quang tất cả. Thiền ngay cái ruột, thiền ngay cái tim, thiền ngay cái gan, thiền ngay cái phổi, là những triệu chứng cứu cánh cho tinh ba ngũ ẩm sẽ được sống lại. Vì bấy lâu nay chúng đã chết, chết mãi không bao giờ sống lại. Nếu không biết cách rút điển quang  từ ngoài vô trong,  còn 1008 cái huyệt từ đầu ngón tay, ngón chân, sợi tóc, nó bị bít vì tham sân si”

Bài tập số 5 Nhập định, bước bào giai đoạn 7  của Vạn pháp Quy nhất. “Để phá những cái màn vô minh che lấp mỗi cái huyệt Tiên thiên của Bồ tát, thì sẽ thành CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC”.

Phương pháp Vô thức đã thực hành rốt ráo các quy luật  căn bản của Tạo hóa, Thượng Đế, Phật A Di Đà. Của  minh triết Phương Đông. Và quy tụ lời dạy tinh hoa của Đức Phật Thiên tôn,  Đức Phật Thế tôn. Đó là căn duyên vô cùng đặc biệt của phương pháp Vô thức được vinh dự mở mang trí tuệ bởi các bậc Đại Trí Huệ lớn lao nhất vũ trụ.  Nên người  luyện tập Vô thức phải  tinh tấn nỗ lực rất cao, hiểu lời Phật Di Lạc mới xứng đáng tập đầy đủ các bài tập 1,2,3,4,5 để bảo vệ bộ não và giải nghiệp. Nếu không hiểu việc tu luyện thân tâm, sẽ bị nghiệp gạt ra ngoài không tập tiếp được. “Nếu ai không thành chí học tập thì cũng hoại như hiện nay con người đang hoại và sắp hoại”.Do mình lựa chọn, không ai làm hộ được.

Khoa học bó tay trước ô nhiễm và biến đổi khí hậu. Việc ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm thực phẩm chưa khủng khiếp bằng ô nhiễm không khí. Sóng từ trường thiêu đốt hệ thần kinh. Có người tự nhiên gục xuống chết ngay, hoặc chết dần mòn vì suy thận, suy tim, ung thư, tai biến não, mất trí nhớ, thiếu oxy… Bệnh tăng dần theo đà tăng của sóng từ trường. “Từ nguyên thủy đến nay cũng do lòng phàm của con người xây lên, rồi ngã xuống”. “Kiếp này là kiếp cộng nghiệp, mọi người đều phải trả, dù là kẻ đó tu hành cách nào”.  Khi mà thế giới hết thuốc chữa, chỉ còn duy nhất Giải Pháp GIẢI ĐỘC cho cơ thể, cứu người tu chân chính vẫn sống tươi tốt. “Đang ở tại cõi địa ngục mà không khổ là Tây phương Cực Lạc rồi”.  “Là lập Tây phương cực lạc tại trần thế này”

Lời  Đức Phật Di Lạc dành cho người  tu luyện Nê Hườn Cung có thể hiểu được và làm được sứ mệnh thiêng liêng:

“Nắm được một cơ hội thuận tiện để giải thoát thì chúng ta thấy rằng sự SIÊU THOÁT chắc chắn nắm vững vàng trong lòng bàn tay”.

“Cho nên bần đạo nói với các hàng tu chơn chánh để lo quét dọn cái tâm, mà còn lo gieo giống lành cho Thế giới, để Thế giới tỉnh lại mà lo tu hành, hầu cái quả nghiệp của họ bớt đi, để họ giữ lấy cái xác mà lập đời Thánh Đức cho Quốc gia của họ”.

“Cho nên hàng cư sĩ, là chính các linh căn xuống thế để hòa nhịp thuận với sanh chúng”. “Bần Đạo xin nói với các ngươi rằng, các hàng cư sĩ sẽ lập ra Thánh Đức Kim Thân, với cái khả năng bất khả tính, là mãi mãi cái đạo phi thường trong vòng 5000 năm.

“Ai đã hiểu được cái lý Hạ ngươn, thì nên sớm tỉnh, để cùng nhau hợp tâm phá cái mê cho nhau, bằng cách chỉ cho nhau những lỗi lầm, thì sự tu học mới mau đem lại kết quả. Nhưng kẻ nào tự ái, không nghe, chính kẻ đó tự đưa họ lên cõi mặt trăng”

“Quý vị Đạo tâm sẽ lên đường vì sứ mệnh cao cả của quý vị, mà từ khi loài người có đến nay chưa có ai làm được”.

“Vạn ức niên mới có một thuở này, nếu không tỉnh thì chắc là khó mà tìm gặp lại dịp may mắn này”.

“Nếu con người không theo kịp cái đà tiến của địa cầu, thì cũng là do nghiệp lực của nhơn sanh, chớ không làm sao hiểu được và biết được cái lý nhiệm màu của Tạo Hóa xoay chiều“.

Đó là bản kinh hay nhất thức tỉnh lương tri con người. Chúng ta cần đọc hàng ngày để mở ra Trí Huệ biết con đường  vượt qua gian nguy.

Lòng biết ơn là một thứ năng lượng kỳ diệu, thu hút tâm thiện chuyển vào  tâm mình, giúp chúng ta trưởng thành. Biết ơn Tạo hóa, Thượng Đế, Đức Phật, Đức Chúa, các vị Thánh nhân, các vị Thày. Đã mở đường Trí Huệ giúp chúng ta biết cách vượt khó khăn. Biết ơn Tổ tiên ông bà cha mẹ đã thương yêu mình. Biết ơn người ác đã làm mình khổ, để mình tỉnh táo  hơn. Biết ơn bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ chặng đường cùng ta. Biết ơn bệnh tật đã cho mình bài học lớn. Biết ơn Cơ thể đã tận tụy phụng sự, cho ta bài học lớn.

Khi phai nhạt lòng biết ơn, thì những gì đã đến cũng phai nhạt và có thể mất đi.  Sự vô ơn  là tín hiệu của tâm vô minh.

Không phải chờ nghi  lễ hình thức để bày tỏ.  Mà luôn ở trong tâm khảm tập nói lời bày tỏ lòng biết ơn. Tấm lòng chân thành ấy được Trời Phật đáp lại bằng năng lượng màu nhiệm A Di Đà  xuyên màn vô minh đen tối, để hồi sinh sự sống cho ta. Đó là lúc Thiên Địa Nhân đồng nhất thể, nghĩa là Trời Đất và Người thương nhau như một. Trời Phật  thấu hiểu nỗi đau thương của con người, đã gieo Nhân lành cho ta hưởng Quả ngọt. Ai không hưởng ứng, thì không nhận được Quả ngọt.

Cơ thể là đền đài thiêng liêng của Tạo Hóa ban cho, cần được quét dọn sạch sẽ để đón nhận tương lai tươi sáng.  Chiến thắng bản thân là chiến thắng vinh quang nhất.

ĐOÀN THANH HƯƠNG 

Loading