Lời kết
NHỮNG BƯỚC CHUYỂN.
Các bạn sẽ được nghe câu chuyện về những đứa trẻ thành phố, thời chiến tranh phải sống xa bố mẹ, trong cuộc sống không điện nước, không điện thoại, không tủ lạnh, thiếu thốn thực phẩm. Ăn gạo tem phiếu bao cấp toàn gạo hẩm mối mọt mốc, hoặc ăn độn với ngô, bột mỳ, bo bo. Thì trẻ em đã học tập và lớn lên như thế nào? Bố Mẹ dạy con cái như thế nào ? trước dự báo tới đây có một thời kỳ mất mạng internet, mất điện, mất nước, thì liệu mọi người có chịu nổi không ? Hay đó cũng là những ngày vui không đáng sợ.
Tôi lớn lên trong chiến tranh kháng chiến chống Mỹ, vừa học hành vừa tránh bom đạn.
Tôi sinh ra ở phố Hàng Bột, Hà Nội. Nay là phố Tôn Đức Thắng. Lên 5 tuổi tôi được ở với Bà Nội ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Bà yêu thương tôi, thường dắt tôi đi bộ thăm bạn bè của bà trên các phố Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, xóm Hạ Hồi, Tràng Thi, bưu điện Hồ Gươm. Và đến căn biệt thự 52 Nguyễn Du là nhà Bà ngoại tôi ở góc phố 52 Quang Trung, Nguyễn Du những đêm hoa sữa thơm nồng.
Bà ngoại tôi luôn nhai trầu bỏm bẻm trên chiếc sập khảm trai long lánh rất đẹp. Cho tôi ngoáy trầu không trong chiếc cối nhỏ xinh bằng đồng. và cho tôi ngủ trên chiếc sập cùng bà. Tôi nhớ mãi tình cảm của Bà rất yêu thương tôi.
Những ấn tượng tuổi thơ mà tôi rất thích được tha thẩn nhặt sấu, với hàng cây sấu phố Lý Thường Kiệt. Đi chơi dọc theo góc phố Tràng tiền nhộn nhịp, và hồ Hoàn Kiếm. Trẻ con thời đó đi chơi một mình trên đường phố không sợ bị bắt cóc như bây giờ.
Năm 1960 Bố tôi đi tu nghiệp nước ngoài. Khi về đã tặng tôi một búp bê Pháp tên là Bella rất đẹp, biết khóc oe oe. Thửa đó hàng của Pháp đắt tiền, bằng giá trị nửa ngôi nhà. Bố tôi đã dành dụm tất cả tiền mấy năm trời ở nước ngoài, để mua cho tôi. Người nước ngoài không dám mua, còn xin bố tôi mở hộp cho xem. Tôi nhớ mãi cái cảm giác sung sướng được bế búp bê to lớn màu vàng mơ đẹp tuyệt trần. Bố dắt tôi đi chụp ảnh ở những vườn hoa quanh Hồ gươm. Tôi phụng phịu không thích chụp ảnh. Đó là ký ức tuổi thơ lúc hòa bình yên vui.
Tôi giữ gìn búp bê Bella trên 60 năm, đến khi váy áo búp bê tan rã hết, mà vẫn đẹp. Đó là món quà lớn nhất tôi mang theo suốt đời, như một biểu tượng tinh thần của Bố đã an ủi tôi suốt đời.
Năm 1964 bắt đầu chiến tranh Mỹ mang bom phá hoại miền Bắc. Tôi đi sơ tán cùng bà nội về quê ở thôn Hữu Thanh Oai cạnh dòng sông Nhuệ. Các anh em mỗi người mỗi nơi. Còn Bố Mẹ ở lại Hà Nội tiếp tục công việc.
Tôi bước vào cuộc sống tự lập ở quê, không có điện nước. Phải ra sông xách nước về đánh phèn để dùng. Bà tôi thuê người gánh nước, nhưng tôi cũng đi phụ gánh xô nước nhỏ, và giặt giũ quần áo bên bờ sông Nhuệ đỏ hồng phù sa.
Tôi tự lo sách vở, và đến trường học hành. Mỗi năm lên một lớp. Mỗi khi có tiếng máy bay lẹt xẹt phải nhảy xuống hầm trú ẩn, đầy bùn đất có lúc cả ếch nhái ở đó. Lúc thì đi hái rau bờ rào. Có phiên chợ thì đi chợ quê với Bà Nội. Bố Mẹ tôi không tạo ra sự lo sợ cho tôi, mọi người đều sống như thế nên tôi rất vô tư cùng đám trẻ con. Chỉ mải nô đùa và học hành cùng các bạn. Nhưng cũng có cô bạn mỗi khi gặp Bố Mẹ thì khóc lóc, nằm lăn ra đất không cho Bố Mẹ về. Rồi sau đó vẫn vui chơi.
Tôi ra sông Nhuệ tập bơi với chiếc phao là khúc cây chuối nổi bồng bềnh trơn láng. Tôi bơi lội thỏa thích trong tiếng cười reo không dứt của đám trẻ con. Ngày nào cũng được đắm mình trong thiên nhiên, với những trò chơi nhiều vô tận: Nào trốn tìm, nhảy dây, đánh bi, đánh đáo, đá cầu, nhảy ngựa, chơi ù, chơi chuyền, chơi ô ăn quan, trồng nụ trồng hoa, cắn chắt, hái lá đoán tên, pháo nổ pháo nang, bịt mắt bắt dê, đua xe đạp, chơi bóng, đánh khăng, đánh đu, trèo ổi…. Buổi tối cùng bạn học trong lớp hẹn nhau học nhóm, cùng giải bài tập về nhà. Mỗi đứa một đèn dầu muội khói. Tôi móc ra cục rỉ mũi đen nhẻm như than.
Dòng sông Nhuệ với những hàng ghế đá vững chãi từ thế kỷ trước, do cụ tôi là Đoàn Triển làm cho dân làng ra sông ngồi hóng mát. Ngày hè nóng bức hồi đó không có điện, nên cứ chiều tối mọi người tụ tập ra bờ sông ngồi ghế đá hóng gió mát, tán chuyện rôm rả dưới ánh trăng. Tôi được các cô bác lớn tuổi kể cho nghe những chuyện tiếu lâm Ba giai – Tú Xuất cười ròn rã đến đau quặn bụng.
Chuỗi kỷ niệm tuổi thơ như bản nhạc linh thiêng mỗi khi vọng về cho tôi niềm phấn chấn. Tôi kể lại cho cháu nội nghe về trẻ em thời chiến tranh, bà đã sống như thế. Cháu trả lời khá bất ngờ. Tầm suy nghĩ của đứa trẻ 7 tuổi đã biết nỗi thiệt thòi của nó: “Bà thật sung sướng được chơi với nhiều bạn. Bây giờ chúng cháu không được như bà ngày xưa”.
Tôi giống Bố đọc rất nhiều sách. Chuyện cổ tích Tấm cám. Nàng tiên cá, chuyện cổ tích Andecxan. Chuyện viễn tưởng của Juyn Vecnơ, Cuộc phiêu lưu của Caric và Valia. Túp lều bác Tôm. Bim trắng tai đen. Thám tử Selochom. Tam quốc diễn nghĩa. Chuyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.v.v.
Tuổi sinh viên đọc những tác phẩm văn học kinh điển của thế giới: Ruồi trâu. Chiến tranh và hòa bình. Thép đã tôi thế đấy. Nhà thờ Đức bà. Cuốn theo chiều gió. Bà Bôvary. Jeen Ero. Hai chị em. Trở về Eden. Mary Quyri, Bà Hilacry Clinton, Công nương Diana, thơ triết học “Faoxtơ” của Gothe v.v…
Sau này cần nghiên cứu thì đọc hàng trăm cuốn sách về sức khỏe và tâm linh.
Sau khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, tôi trở về Hà Nội với Bố Mẹ, đã là một học sinh lớp 7/10. Tiếp tục học chuyển cấp, vừa làm thêm phụ kinh tế gia đình. Việc đi chợ phải xếp hàng mua 1 mớ rau muống, 1 cân cam cũng phải xếp hàng rồng rắn lên mây. Sản phẩm của nông dân làm ra, phải nhập kho đầy đủ, đến khi được chở đến cửa hàng mậu dịch thì đã ôi, dập nát một phần. Mua gạo củi thịt cá thì phải xếp hàng từ 4h sáng, bị đám áp phe chen lấn xô đẩy mua trước những miếng ngon. Tôi chỉ mua được gạo hẩm, và vài lạng thịt bèo nhèo. May mắn sau này xóa bỏ bao cấp, mới bỏ Xếp hàng cả ngày. Nếu không cũng như Cuba bây giờ.
Chỉ hai năm sau tôi phải đi sơ tán lần thứ hai. Về trường cấp 3 Việt Ba ở Thường Tín. Hai chị em ở nhờ nhà dân. Thời đó bà con nông thôn mở cửa cho người đi sơ tán ở nhờ, không ai lấy tiền trọ. Mọi người đều hiền hòa sống có trật tự, nên ở đâu cũng an toàn, không phải lo nghĩ như bây giờ.
Đến ngày Mỹ tuyên bố ném bom hủy diệt Hà Nội về thời kỳ đồ đá. Hai chị em tôi nghỉ học, mẹ gọi chúng tôi về quê với bà nội. Mẹ cũng nghỉ việc nhà máy về đó ở cùng. Tôi nghe lỏm môt câu: Nếu chết thì cả nhà cùng chết. Bố tôi là lãnh đạo thì bám trụ nhà máy. Đêm đêm tôi nhìn về Hà Nội lửa cháy đỏ rực bầu trời, súng đạn bắn lên như bão lửa.
Nghe tin B52 rải thảm phố Khâm Thiên, một tuần sau tôi về thăm phố Khâm Thiên sầm uất, nay đã bị san phẳng chỉ còn dẫy gạch vụn chạy dài tít tắp. Còn duy nhất một miếu thờ nho nhỏ khỏang 2m đứng sừng sững. Tôi đến nhìn kỹ thấy không sứt mẻ. Mùi tinh dầu xả bao trùm khắp phố. Lực lượng xung kích đang đào bới tìm xác người. Tôi thấy một cô nữ dân quân được tìm thấy trong tư thế đang ngồi bồng súng. Nhớ lại hình ảnh dãy phố đổ nát, nước mắt vẫn tuôn rơi.
Điều kỳ diệu chưa từng có. Trong 12 ngày đêm ấy Mỹ bị đòn giáng trả kinh hoàng, bị bắn rơi 34 chiếc B52, và hàng trăm máy bay khác. Buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc. Gia đình tôi vẫn vẹn toàn.
Tôi trở về Hà Nội tiếp tục học cấp ba, được Bố kèm cặp dạy bảo nhiều hơn. Dạy tôi bằng lối sống kiên nghị của Bố, và những hành động thực tế, những câu nói ngắn gọn, tôi nhớ mãi suốt đời. Ông không bao giờ thuyết giáo dài dòng.
Bố tôi là Dược sĩ Đoàn Hữu Sử, đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, cùng Mẹ tôi, đều làm quân y. Đã cống hiến với tất cả sức lực và trí tuệ. Có một năm bố tôi kiệt sức nằm một chỗ. Chiến khu Việt Bắc khan hiếm thuốc chữa. Mẹ tôi cho uống nước gà hầm 3 tháng, đã có sức khỏe làm việc tiếp.
Hòa bình trở lại Bố tôi làm công việc chuyên môn mà ông rất đam mê, là xây dựng ngành Dược Việt Nam. Ông được đi tu nghiệp nước ngoài, trau dồi kiến thức ngành Dược.
Nguyên là Giám đốc xí nghiệp Hóa Dược (Hà Nội). Ông tham gia giảng dạy tại Học viên Quân Y 103. Và Đại học Dược khoa. Sau năm 1975, ông đã xây dựng dự án khả thi về thuốc kháng sinh, được Liên hợp quốc phê duyệt tài trợ dự án. Bố vui mừng nói với tôi: Bố sẽ đem vàng về cho đất nước.
Ông đi vào thành phố Hồ Chí Minh làm viện trưởng Viện công nghiệp Dược để triển khai dự án. Ở trong căn nhà tầng 2, có khu tập thể công nhân. Và từ chối biệt thự riêng dành cho ông. Vào thời điểm đó đất nước rất khó khăn sau chiến tranh với Mỹ, Tàu, Campuchia. Nên khoản tiền tài trợ dự án của Bố tôi, đã được nhà nước chi dùng việc khác. Dự án xây dựng nhà máy kháng sinh đã gác lại, nhưng hoài bão cống hiến cho dân tộc của Bố đã truyền sang tôi.
Ông là người có khí phách cương nghị không nhờ cậy ô dù, không phe nhóm, phải chịu đựng rất nhiều áp lực. Người tài giỏi thường phải chịu đựng những mưu hèn kế bẩn của người bất thiện. Nhưng không bao giờ Bố tôi than phiền một câu. Tôi chỉ nghe thấy những điều hào hứng, thú vị trong cuộc sống. Ông hăng say với công việc, không thanh minh, không phàn nàn tức giận, chỉ nói một câu “Ném òm xuống sông”.
Ông dạy tôi về Nghề nghiệp, thiện và ác, bằng một câu đúc kết: “Muốn làm người lương thiện, phải có lao động, có một nghề giỏi. Nếu không có nghề nghiệp sẽ ngồi nghĩ mưu mô chiếm đoạt làm hại người khác”.
Bố tôi bàn với Mẹ tôi phải rèn rũa các con bằng lao động. Cả nhà sống tiết kiệm bằng đồng lương ít ỏi thời bao cấp, và lao động phụ thêm. Tôi vừa học, vừa làm thêm hàng may đan xuất khẩu. Có lúc chăn nuôi một đàn lợn khá vất vả. Nhờ sự rèn rũa đó, tôi mới có bản lĩnh không ngại khó khăn gian khổ.
Câu nói “Lòng tốt là của để dành” luôn được nhắc nhiều lần. Khi trưởng thành tâm linh tôi mới hiểu đó là một triết lý sống rất cao siêu cho sự bình an của cả con cháu sau này cũng được hưởng. Dễ hiểu hơn những cuốn kinh sách. Ông đã sống đúng như thế. Dù không có tiền để cho mọi người. Nhưng đi đến đâu ông cũng để lại ấn tượng sâu đậm, bằng lời thăm hỏi trìu mến, lời góp ý đầy trí tuệ. Không nói cạnh khóe, hoặc nóng giận bực tức với ai. Không bao giờ mắc khẩu nghiệp. Nhiều người rất vui mừng khi gặp ông.
Bố tôi không chấp nhận sự phiền não. Thấy tôi nhạy cảm có điều gì phiền lòng, ông liền nhắc nhở: “Con phải biết giữ vệ sinh bộ não”. Khi nhìn con gái có nước mắt, ông phản ứng ngay: “Con không được bi quan, việc gì khó mấy cũng có cách giải quyết được”. Lời nói đó âm vang trong suốt cuộc đời tôi. Và tôi đã làm được điều đó, nhiều lần vượt qua cái chết.
Tôi được Bố rèn luyện nếp sống Chính niệm. “Mỗi ngày chỉ làm một việc cho tốt, làm nhiều thứ hỏng việc”. “Chỉ một việc cho tốt” lúc nào cũng hiện diện trong ứng sử của Bố, khiến ông có sức mạnh không gì lay chuyển được.
Bố dạy bảo tôi về ô nhiễm môi trường ngay từ 50 năm trước. Ấn tượng nhất là lúc Bố tôi cầm một chiếc bút từ trường của Mỹ. Bảo tôi hãy nhìn đèn đỏ đã bật lên khi lại gần tivi, báo động không tốt cho sức khỏe. Đưa bút lùi ra xa thì đèn xanh bất lên, báo hiệu an toàn. Và dặn tôi: Con phải ngồi ra xa tivi hơn mét rưỡi thì an toàn. Tôi đã được cảnh báo sự độc hại của sóng từ trường, ngay từ khi mới xuất hiện tivi đen trắng. Và dạy tôi cách dùng điện thoại di động, chỉ được phép báo tin rồi cúp máy, chứ không nói chuyện lê thê.
Đến nay đồ dùng công nghệ cao 5G độc hại gấp trăm lần nhưng tất cả đều bị mê mẩn những thứ đó.
Bố tôi là nhà Hóa học đã chỉ ra cho tôi những mặt trái của hóa học nhân tạo. Các mùi thơm hương liệu và nước hoa nhân tạo, đều tạo ra từ nhóm hóa chất Benzen độc hại thần kinh. Phẩm màu là hóa chất độc. Mì chính nấu nướng ở nhiệt độ cao thì sinh ra chất độc. Nồi chống dính Fluo độc hại khi nó bong ra. Mỳ tôm không tốt cho sức khỏe. Bơ thực vật là chất béo được Hydro hóa không tốt...
Bố tôi nhận xét: “Nước mình đang sung sướng được ăn con gà con lợn tươi ngon tự nhiên. Các nước họ ăn thức ăn công nghiệp ướp lạnh không có gì ngon cả. Sau này Việt nam cũng như vậy thì khổ ”. Đúng là đã diễn ra nỗi khổ về thức ăn.
Cụ nội Đoàn Triển đã dạy con cháu truyền thống yêu quê hương, ghi thành sách Nhi tôn tất đọc. Người biết yêu Quê hương Cội nguồn, mới là người có căn cước. Nếu không cũng chỉ như cái bèo trôi dạt đi đâu thì trôi. Cụ là một vị quan thương dân, đã có một tấm văn bia của nhân dân thôn Đông Ngạc, xã Bái Chỉ, Từ Liêm, ghi công ơn cụ Đoàn tướng công “Một lòng thương dân hết lời bênh vực”.
Bố tôi và chú tôi là Đoàn Đà đã được hưởng tinh thần nhân nghĩa của cụ dạy. Hai anh em gắn bó tình yêu quê hương sâu đậm. Được dân làng tin yêu quý trọng hai anh em như điểm tựa tinh thần. Rất nhiều lời ca ngợi, tôi được học hỏi theo.
Cách dùng thuốc của một vị chuyên gia hàng đầu về thuốc cũng thật ấn tượng. Bố tôi rất ít khi dùng thuốc, không dùng kháng sinh. Nói rằng đấy là của để dành. Khi cần cấp cứu mới dùng kháng sinh, thì không bị nhờn thuốc.
Với căn bệnh đau dạ dày 30 năm hành hạ, có thể bị từ hồi kháng chiến kham khổ. Nhưng chưa bao giờ nghe thấy Bố tôi than phiền về cơn đau.
Cho đến năm 57 tuổi, chiếc dạ dày bục nát, bố tôi đi cấp cứu ở bệnh viện Việt Xô. Mỗi ngày sút 1kg vì dạ dày không còn hoạt động. Tình huống gần đất xa trời. Bác sĩ không dám mổ. Nhưng có sự động viên tích cực của các bác có ân tình sâu nặng với Bố tôi, đã tác động mạnh mẽ đến bác sĩ, để ca mổ được tiến hành. Bác sĩ Tịnh mổ ra, rồi đóng lại lắc đầu không có hy vọng. Các chuyên gia được gọi đến tới tấp có một cuộc hội chẩn chớp nhoáng. Và ca mổ tiếp tục, kéo dài thêm 6 tiếng, cắt bỏ hết chiếc dạ dày thủng lỗ chỗ, lâu nay tự vá dính vào gan và các bộ phận khác. Bác sĩ đắp vào ruột non một chỗ chứa thức ăn nhỏ xíu chỉ chứa được 3 thìa cơm.
Với trí tuệ và nghị lực phi thường để tái tạo một dạ dày mới. Bố tôi điều chỉnh chế độ ăn ít một, có đói cũng không được ăn thêm, phải chia thành nhiều bữa ăn ngày và đêm. Nếu ăn hơn một chút là bục vỡ dạ dày. Bố tôi đã phục hồi sức khỏe nhanh hơn người khác. Bệnh nhân bàn tán ”Chắc ông ấy là nhà thuốc có thuốc quý”. Tôi ở trong nhà mới biết không có thuốc riêng nào cả. Đó là do ý chí của bố tôi. Thật kỳ diệu một dạ dày mới đã hoạt động bình thường sau một năm Bố tôi ăn được 1 chén cơm, rồi 2 chén cơm.
Lần thứ hai ông cấp cứu bệnh tim hẹp van thất tâm thu, cánh tay trái đau tê liệt.
Ra viện ông đã có cách giải quyết bệnh của mình. Ông nói với tôi : “Các con rất sung sướng không phải vất vả vì lo cho Bố”. Lúc đó tôi chưa hiểu rõ điều đó.
Bố tôi đã tìm hiểu kỹ, chọn tập môn Thái cực quyền. Với quyết tâm phục hồi sức khỏe không làm phiền con cháu.
Từ đó cho đến phút cuối đời không lần nào phải vào bệnh viện, không thuốc men. Từ 5h-8h sáng ông say sưa luyện tập, nổi tiếng trên sân tập Phú Nhuận. Cuối đời không bệnh tật, được siêu thoát nhẹ nhàng như cánh chim bay đi. Lúc đó tôi mới hiểu lời nói của Bố tôi đã thành sự thật.
Với minh triết của riêng mình, ông đã thoát khỏi hệ lụy trần tục. Không phiền não, không mắc dính thói đời, không quỵ lụy ai. Luôn học hỏi chuyên môn, cống hiến trí tuệ và nhiệt huyết tình yêu quê hương đất nước. Đầy tự tin vào bản thân. Bố tôi đúc kết: “Cả đời Bố không đi xin xỏ ai cái gì”.
Ông chưa bao giờ bàn luận về tôn giáo. Nhưng luôn có sự lựa chọn chính xác từng lời nói việc làm của mình. Và gắn liền với thực tiễn hằng ngày. Ông trở thành hình tượng về một người siêu thoát cần phải sống thế nào. Là khởi đầu cho hành trình nghiên cứu của tôi.
Mặc dù tôi theo học Đại học Sư phạm Toán, đi dạy học 13 năm. Nhưng tôi luôn nghĩ đến tâm nguyện của Bố đã trao truyền, đã trở thành sức mạnh nội lực trong tôi.
Năm 1990 tôi chuyển hướng, xin nghỉ dạy học, để ổn định kinh tế cho gia đình. Mấy năm sau đúng lúc nhà nước cho phép các nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực bí ẩn của con người. Tôi liền tham gia nghiên cứu lĩnh vực chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc, như Bố tôi đã làm được. Vì điều đó rất cần cho tương lai nhân loại. Đó là bước chuyển của vận mệnh để ra đời Phương pháp Vô thức.
Tôi làm việc tại Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Chuyên nghiên cứu năng lượng sinh học gỡ giải những bế tắc thuốc men. Lúc đó là vấn đề xa lạ ít người hiểu. Bạn bè nuối tiếc cho tôi đã bỏ đi những cơ hội hái ra tiền. Tôi không thể giải thích cho ai hiểu được ý nguyện của tôi.
Chỉ có Bố tôi đã tin tưởng, cổ vũ tôi bằng việc tham dự một vài hoạt động của tôi. Nói với người bạn cùng đi, một lời tâm đắc: “Đấy cánh trẻ bây giờ như thế. Trước mình dạy nó, bây giờ nó dạy mình”. Bác kể lại cho tôi biết.
Tôi được sống bình yên trong sự tôn trọng của Bố chỉ theo dõi yểm trợ tế nhị, không bao giờ can thiệp vào việc tôi làm.
Một đồng nghiệp của Mẹ tôi ở Hà Nội, đã vào bay thành phố Hồ Chí Minh, để cám ơn Bố mẹ tôi, vì nhờ tôi chữa khỏi một căn bệnh bí hiểm không có thuốc chữa. Một bác ở thành phố Hồ Chí Minh là bạn của bố tôi, bị bệnh tim mạch khá nặng. Bác điện thoại nói rằng : Bác đã luyện tập phương pháp của cháu, rất tốt cho bác. Và một vài đồng nghiệp của Bố đã luyện tập. Đó là những niềm vui với bạn bè của Bố Mẹ tôi.
Có một ngày Bố tôi nói thấy người hơi mệt. Tôi đưa Bố đi khám ở Viện lão khoa trung ương. Bác sĩ kiểm tra sức khỏe nói rằng: Bác không có bệnh gì, các chỉ số máu đều tốt như thanh niên. Bố tôi phấn khởi nói rằng: “Đó là sự kỳ diệu của dưỡng sinh”. Chỉ mười ngày sau Bố tôi nói “Hôm nay không muốn ăn”. Đêm hôm đó Bố tôi đã ra đi nhẹ nhàng như cánh chim bay đi. Thọ 84 tuổi. Đúng như dự báo Bố tôi viết trong cuốn sổ tay: “Ngày xuân con én đưa thoi là mở đầu phần hai”.
Bố tôi ra đi được 35 ngày, dường như biết tôi quá đau buồn như sắp trầm cảm, Bố tôi đã chủ động trở về thông qua một nhà ngoại cảm, để nói chuyện với tôi. Câu đầu tiên là “Con đừng như thế, bố biết con…”. Lời của Bố đã cứu tôi thoát khỏi gánh nặng tâm lý đang bóp nghẹt tim tôi.
Tôi đến nhà một bác bạn thân của Bố tôi, là Giáo sư bác sĩ Đỗ Doãn Đại, nguyên giám đốc Bệnh viện Bạch Mai. Để chuyển lời cám ơn của Bố tôi: Bác có tin rằng sau khi mất 35 ngày, qua một nhà ngoại cảm Bố cháu đã gửi lời cám ơn Bác đã đến dự đám tang. Và Bố cháu với cháu nói rằng: “Bố đã về cõi Phật, ở tầng cao”.
Bác Đại trả lời ngay lập tức: “Bác tin vì đó chính là con người Bố cháu”.
Tôi ngàn lần cám ơn Bố – Vị Thày lớn nhất của tôi. Người đã bênh vực và dạy bảo tôi bằng lý lẽ khúc triết và tình thương vô hạn như một vị Phật. Người duy nhất trên đời không bao giờ mắng tôi một câu. Những câu nói tự nhiên của Người thắm đượm vào dòng máu tiếp sức cho tôi. Và thường nhắc: “Bố Mẹ là bệ phóng cho các con”. Nhờ có bệ phóng đó, tôi được bay cao bay xa tới Chân lý, tìm ra viên ngọc báu Phương Đông từng bị vùi lấp hàng ngàn năm. Người đã cho tôi nội lực đạp bằng mọi khó khăn, để tìm ra những bí ẩn hệ trọng về Hà Đào Thành, đã thay đổi số phận biết bao con người.
ĐOÀN THANH HƯƠNG
![]()
