LUYỆN TÂM CHÍNH NIỆM
Luyện tâm trước hết cần tìm hiểu tâm của mình thế nào?.
Ai cũng tin tưởng rằng tâm trí suy nghĩ hành động đúng để bảo vệ ta. Nhưng bạn không thể ngờ rằng tâm trí ẩn dấu một bí mật rất lớn. Nó chịu sự tác động của năng lượng xấu ô trược nghiệp lực, và năng lượng sạch, cùng chi phối tâm trí.
Năng lượng xấu rất mạnh, bởi nghiệp lực tích tụ nhiều kiếp sống, và năng lượng ô trược của xã hội thâm nhập vào cơ thể. Sự kết hợp của nghiệp bên ngoài và bên trong, rất mạnh mẽ lấn át lý trí. Nó điều hành tính tham lam, sợ thiệt, sợ mất mát, thích nghe lời giả dối hoa mỹ có lợi. Tiếp thu cái xấu rất nhanh, không nhìn thấy sự thật. Dễ tan vỡ niềm tin.
Năng lượng sạch thì hiếm hoi yếu ớt, khó vượt qua nghiệp. Nên tâm trí chịu sự điều khiển bí mật của nghiệp. Đó là cuộc chiến không cân sức giữa thiện và ác đang diễn ra trong tâm thức chúng ta.
Trong xã hội ô trược thì tâm trí sẽ hấp thụ ô trược. Tâm có bản photocopy kiến trược-tà kiến. Chẳng hạn những học thuyết đề cao vật chất, thói cao ngạo coi thường lương tâm, coi thường Tạo hóa. Thói tham ăn, tham tình, tham lợi, tham tiền, tham vàng bạc, tham danh tiếng, làm lu mờ lý trí và tình yêu thương chân thành. Các cuộc chạy đua lợi nhuận, sát phạt nhau tàn khốc, kẻ khóc người cười..… Tà kiến đó ăn sâu vào tâm trí, trở thành thói quen bản năng thu hút ô trược về mình. Không biết cái tai họa đang phải cõng đống rác ô trược để rồi phát sinh bệnh tật, phiền não. Tâm ô trược gọi là tâm vô minh. Nó nảy ra những lý luận sảo quyệt để bạn thấy mình luôn đúng, người ta sai. Nó không bao giờ cho bạn biết sai lầm của mình, để bạn yên chí đi theo ô trược tăm tối. Bị dòng đời cuốn đi, mà không hiểu đi đâu. Hoàn toàn bị động rồi sa hố đau khổ. Cũng không hiểu vì sao khổ, rồi kêu oan, oán giận, càng thêm phiền não. Quả là không dễ hiểu tâm trí lúc đúng lúc sai. Muốn thoát khỏi ngục tù các thói quen xấu, phải có vị cao nhân mở cửa dẫn đường. Đức Phật Di Lạc chỉ ra: “Khi mà biết mình ngu là lúc mình bắt đầu khôn”.
Chúng ta tu sửa tâm trí, không còn suy nghĩ sai lầm, hành động sai lầm. Tránh thói quen xấu gây căng thẳng tinh thần và thiệt hại sức khỏe, giảm bớt dùng thuốc. Đó là cách tu luyện nếp sống thuận tự nhiên, theo đúng quy luật Tạo hóa, thì hết bệnh tật. Không cần nghi lễ hình thức cho người khác nhìn thấy. Đặc biệt những người bệnh nan y đã chữa bệnh lâu năm, tốn kém nhiều tiền mà không chữa khỏi. Thì phải tu sửa thuận theo nếp sống thuận tự nhiên. Nếu không tu tâm sửa tính, thì không thể tự chữa lành.
Người tu siêu thoát Niết bàn cần biết rằng phương pháp Vô thức có căn duyên đặc biệt với bản kinh A Di Đà của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Những lời Đại trí tuệ của Đức Phật Thích Ca nhìn thấu cõi Niết bàn, đem lại niềm hy vọng tươi sáng về một Tân Thế giới Hạnh phúc đang chờ đón chúng ta. Đức Phật đã nhắc đến việc giải ngũ trược, năng lượng gốc, và siêu thoát Niết bàn. Trùng hợp với nội dung căn bản của Phương pháp Vô thức đang thực hiện. Được Chư Phật mười phương hoan hỷ và tuyên bố rằng:
“Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các vị Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.( Kinh A Di Đà)
Chúng ta được chiêm ngưỡng tâm giác ngộ thế nào ?
Theo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tâm giác ngộ có các đức hạnh “Từ, Bi, Hỷ, Xả”, chấm dứt các tính xấu “Tham, sân, si, mạn, nghi, ngã, chấp, thủ”. Để nắm vững các khái niệm đó phải đọc nhiều, nghe nhiều, đối chiếu nhiều mới rõ.
Chỉ cần nắm vững hai bản Kinh Phật: Kinh A Di Đà, Kinh Đại phước Đức. Do thày Thích Nhất Hạnh dịch rõ nghĩa tiếng Việt, dễ hiểu hơn các bản kinh khác. Đây là hai bản kinh ngắn gọn và cô đọng tất cả phẩm chất một con người Hạnh phúc được trở về Niết bàn.
Người tu tâm luôn chọn điểm đến của mình là thế giới thanh tịnh Niết bàn, Thiên đường. Nhưng có người tu cả đời không hiểu Niết bàn ở đâu thì làm sao đi đến đích.
Đức Phật Thích Ca đã giảng nghĩa rất đầy đủ trong bản kinh A Di Đà nói về một thế giới Cực lạc chưa từng ai nghe thấy. Bản dịch của thày Thích Nhất Hạnh, dùng danh từ Bụt được phiên âm từ “Butdda” theo đúng nghĩa tiếng Phạn cổ. Tương đương với danh từ Phật là phiên âm từ tiếng Trung Quốc.
“Lúc bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo: “Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng 10 vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.
“Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc”.
“Ở nước Bụt ấy, người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy có thói quen buổi sáng lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi cúng dường các vị Bụt đang cư trú ơ vô số các cõi Bụt khác. Đến giờ cơm trưa, mọi người đều về kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy”.
“ Ở nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo. Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài”
“Thọ mạng của đức Bụt ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài tới vô lượng vô biên kiếp A Tăng Kỳ, vì vậy cho nên danh hiệu của ngài là A Di Đà”.
“Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng, không thể kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.
“Chúng sinh mọi nơi khi nghe nói tới nước Cực lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy, sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc Thiện Nhân cao đức. Cõi ấy chỉ lấy công đức mà tạo thành được”
“Người ấy, đến khi lâm chung, sẽ được thấy Bụt A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và tán loạn, do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc. Xá Lợi Phất! Vì thấy được cái lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng những ai đang nghe tôi nói đây hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy”.
Đó là phần mở đầu diễn tả Thiên đường Hạnh phúc. Nơi không có cái ác, không có ô nhiễm, không có bệnh tật. Chỉ có tâm hồn an lạc tràn ngập yêu thương. Sống lâu vô lượng kiếp. Đức Phật kêu gọi mọi người nên phát nguyện sinh về nước ấy. Được các vị Bụt hết lòng xưng tán và hộ niệm.
Bản kinh đã phản ánh một nhận thức cực kỳ quan trọng bản chất thực sự Bụt A Di Đà là gì ?
“Đức Bụt kia tại sao có tên là A Di Đà? Tại vì đức Phật ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di Đà”.
Như thế đã rõ Đức Phật A Di Đà không phải một người có hình tướng. Mà là Ánh sáng vĩ đại bao trùm toàn thể vũ trụ, tất cả các cõi, “mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách”.
Kính thiên văn hiện đại Hubble được đưa vào vũ trụ ngày 24/4/1990 đã ghi nhận được khối sáng chân không lượng tử của thửa ban đầu vũ trụ thanh tịnh chưa có vật chất. Trùng hợp với mô tả của Đức Phật về khối sáng A Di Đà thanh tịnh, đang chiếu dọi tất cả các cõi và thế giới chúng ta. “Ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách” thì ống kính thiên văn mới ghi nhận được. Niết bàn là hiện thực khách quan về năng lượng gốc khởi thủy vũ trụ, chứ không là ảo tưởng tôn giáo. Như vậy quan niệm Phật A Di Đà trùng hợp với quan niệm Thượng Đế, Tạo Hóa của các tôn giáo lớn.Đều là khối sáng thuần khiết Cội nguồn của chúng ta. Chỉ khác nhau tên gọi mà thôi. Đức Phật ấy hiện đang thuyết pháp dạy con người giải thoát khổ đau.
Phần cuối cùng bản kinh đề cập một vấn đề rất khó diễn đạt cho mọi người hiểu. Đức Phật đã kể tên 5 loại ô trược đang bủa vây thế giới chúng ta. Bản kinh dừng lại ở đây. Có thể thời đó dân chúng sống bình an, không có ô nhiễm dữ dội như ngày nay. Nên Đức Phật chưa nói rõ việc thực hành giải ô trược. Chỉ cho biết rằng nó cực kỳ khó khăn, khó hiểu.
“Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư Bụt, thì chư Bụt cũng đang xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi, và nói: Bụt Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi ta bà đầy dẫy năm yếu tố ô trược là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sinh những pháp môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin”.
“Xá Lợi Phất! Thầy nên hiểu cho rằng cư trú trong thế giới đầy năm loại ô trược này mà đạt tới được quả vị giác ngộ vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó tin như pháp môn này, đó là một việc làm quả là cực kỳ khó khăn”.
Đức Phật Thích Ca tiên tri cho hậu thế sau này sẽ có Đức Phật Di Lạc nối tiếp con đường Phật Pháp. Tôi nghĩ rằng Đức Phật Di Lạc sẽ thực hiện phần sau cùng của bản kinh A Di Đà, là thực hành giải ngũ trược. Rất cấp thiết trong thời đại ô nhiễm môi trường. Khoa học bó tay không sử lý được hậu quả bụi mịn, bụi siêu mịn, bụi nano kim loại loại nặng, sóng độc hại, hóa chất độc hại. Nhiều người đang bị rơi vào thảm họa bất lực “Tiếng khóc than trong đêm mà không ai nghe thấy”
Ô trược đang tấn công tất cả không trừ một ai. Mọi người đang oằn mình chống chọi với ô nhiễm môi trường. Bệnh tật là đống ô trược khổng lồ trong người. Tự mình không biết giải ô trược, cần có Minh sư giúp đỡ. Có thể là Đức Phật Di Lạc đã xuống thế dưới nhiều hình tướng khác nhau để giúp đỡ mọi người tiếp tục hành trình bản kinh A Di Đà.
Minh Sư là người dạy cho đệ tử nhận ra vị Thầy bên trong của mình. “Minh sư là người đã nhớ lại Cội nguồn. Và do Tình thương bao la họ đã chia sẻ hiểu biết này với bất cứ ai thành tâm cầu đạo, mà không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Họ cúng dường tất cả thời gian, tài sản riêng tư và sức lực bản thân cho Thế giới. Khi chúng ta đạt đến trình độ của Minh sư, chúng ta không những biết được Cội nguồn của bản thân, mà còn giúp được người khác biết giá trị chân thật của họ. Những ai đi theo sự dẫn dắt của Minh sư sẽ nhanh chóng thể nghiệm được một Tân thế giới, đầy Chân lý, Toàn Thiện, và Toàn Mỹ. Tất cả Chân Thiện Mỹ bên ngoài là để nhắc nhở chúng ta đến cái thế giới thật bên trong…Chỉ có một thứ có thể thỏa mãn linh hồn chúng ta là Chủ nhân ở bên trong bản thể con người.
Khi một vị Minh sư còn tại thế, ngài thu thập nghiệp chướng của chúng sinh, nhất là những người đã tin tưởng Ngài. Những nghiệp chướng này phải được Minh sư giải quyết cho hết. Cho nên trong cuộc đời của Ngài, phải chịu đau khổ trên mình của Ngài. Ngài có thể bị bệnh, bị đau, bị hành hạ, bị đóng đinh lên thánh giá… Minh sư phải nhập thế để cứu độ chúng sanh khi họ cần đến. Tuy vậy Ngài không bị lôi cuốn vào trong Thế giới này, không bám víu, cũng không gắn liền với những sự thành công hay thất bại trên cõi đời này” ( Ánh đạo vàng-Trần Minh Trung).
Người tu sửa không thể là người bất hiếu với Cội nguồn. Phải khai tâm mở trí hiểu rõ Cội nguồn ở đâu, mới thấy đường Chân lý mà bước tiếp.
Lòng biết ơn là một thứ năng lượng kỳ diệu, thu hút tâm thiện chuyển vào tâm mình, giúp tâm tỉnh thức. Khi nói đến Cha Mẹ Cội nguồn, hay Đức Phật, tôi nghẹn lời cố giữ nước mắt khỏi tuôn trào, mất vài phút mới giảng tiếp. Lòng biết ơn đã thu hút Trí Huệ Cội nguồn giúp tôi hiểu được bí mật Tạo hóa. Mới ra đời phương pháp Vô thức giúp đỡ người cùng khổ. Nếu tôi vô cảm thì không thể viết được cuốn sách này.
Người đã tỉnh ngộ mới thấm thía lòng biết ơn Cội nguồn Tạo hóa, Thượng Đế, Đức Phật, Đức Chúa, các vị Thánh nhân, các vị Thày. Biết ơn Tổ tiên ông bà cha mẹ đã thương yêu mình. Biết ơn người ác đã làm mình khổ, để mình tỉnh táo khôn hơn. Biết ơn bệnh tật đã cho mình những bài học lớn. Biết ơn bạn bè đồng nghiệp. Biết ơn Cơ thể đã tận tụy chăm sóc ta.
Khi phai nhạt lòng biết ơn, thì những gì đã đến cũng phai nhạt và có thể mất đi. Sự vô ơn là tín hiệu của tâm vô minh.
Lòng tốt luôn chan chứa tình yêu thương, là tài sản vi diệu quý báu nhất. Là cái duy nhất được đi sâu vào tâm thức, đi theo ta muôn kiếp. “Cứu một người hơn xây dựng năm bảy cảnh chùa”. Phước đức đó như tấm căn cước mở cánh cổng Thiên đường đón bạn như thiên thần của tình thương yêu. Còn của cải vật chất thì bỏ lại thế gian.
Tập cách nói bày tỏ lòng biết ơn Cội nguồn. Tấm lòng chân thành biết ơn được Trời Phật đáp lại bằng năng lượng nhiệm màu, hồi sinh sự sống cho ta. Trời Phật không nuông chiều những đòi hỏi tham lam vật chất. Tất cả sự sống đều vận hành theo quy luật Tạo hóa chính xác tuyệt đối, đã ghi trong nhân ADN của mỗi tế bào. Sống sai luật cân bằng âm dương thì bệnh tật. Phải sửa sai mới bình ổn sức khỏe. Luật Nhân quả không bỏ sót một hành động xấu tốt nào của Tâm. Trời Phật đã gieo Nhân lành cho chúng ta hưởng Quả ngọt. Nếu chúng ta không hưởng ứng, không gieo Nhân lành, thì không được nhận Quả ngọt. Đó là quy luật công bằng tuyệt đối bảo vệ Trật tự vũ trụ không cho phép nọc độc ác được lấn át hủy diệt tình yêu thương. Để giúp cho muôn loài cùng chung sống.
Con đường giải ô trược đã được nhắc đến từ lâu. 5000 năm trước các nhà hiền triết Phương Đông đã chỉ rõ thủ phạm ô trược nghiệp lực gây ra nỗi đau tinh thần và thể xác. 2500 năm sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ cụ thể có 5 loại ô trược bủa vây thế giới. Việc thanh lọc ô trược đã được các bậc Đại trí tuệ rèn rũa lâu đời. Đỉnh cao là khai mở cánh cửa Nê Hườn Cung- Hà Đào Thành để thanh lọc triệt để ô trược.
Chúng ta luyện tập giải ô trược hàng ngày. Một mình quay vào bên trong để làm sạch trường năng lượng của mình. Không giao du quá nhiều bạn bè xã hội. Tâm là vùng đất thiêng, đừng để ai gieo vào hạt giống độc, không tiếp xúc thông tin tiêu cực.. Không bị hút vào nơi ồn ào, tiêu cực, cả nể, tạo nghiệp thị phi.
Ta tu sửa từng chút một, từng hành động nhỏ, từng suy nghĩ sạch, từng cảm xúc thiện lành…
Phương pháp Vô thức quay vào bên trong thực hành giải ô trược nghiệp lực. Đã rèn luyện nếp sống thuận tự nhiên. Cơ thể tự khai mở cánh cửa Hà Đào Thành được thông thiên với năng lượng thanh tịnh của Niết bàn. Nghĩa là Ánh sáng A Di Đà đã chiếu rọi bên trong ta. Năng lượng sạch tăng lên thì nghiệp xấu phải lui dần. Tâm vô minh chuyển dần sang tâm giác ngộ biết cai quản bảo vệ cơ thể. Trở thành chủ nhân ông có đủ sức chuyển hóa nghiệp. Đem đến những thay đổi vi diệu chưa từng thấy. Bàn tay được luyện tập, đã tăng năng lượng cao hơn bình thường, ngày càng mạnh hơn. Đến lúc chỉ cần chụm các ngón tay lại là có 6 nguồn năng lượng mạnh của 6 đường kinh mạch chiếu rọi vào chỗ đau, sẽ hết đau như phép màu của Phật A Di Đà. Thiên Địa Nhân đồng nhất thể, chúng ta được nhận ánh sáng thanh tịnh Phật A Di Đà xuyên qua màn đêm vô minh tăm tối, giúp ta hết bệnh, hết phiền não. Bất kỳ ai thuộc đạo nào cũng làm được như vậy.
Không phải ai cũng đi đến thành công. Đức Phật cảnh báo: “Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy”. (Kinh A Di Đà).
Những người tâm vững mạnh như thành đồng, như Đức Phật nói là “Bất thối chuyển” không thối lui mới đi đến thành công giải nghiệp. Rèn luyện tâm tỉnh táo sáng suốt có vai trò quan trọng hang đầu. Tâm lơ mơ thì không thể tự chữa lành.
Người tỉnh thức cần thanh lọc bản thân trước khi trời thanh lọc. Cơ thể là đền đài thiêng liêng của Tạo hóa ban cho, cần được quét dọn sạch sẽ để đón nhận tương lai tươi sáng. Chiến thắng bản thân là chiến thắng vinh quang nhất
ĐOÀN THANH HƯƠNG
KINH ĐẠI PHƯỚC ĐỨC
Lánh xa kẻ xấu ác (1)
Được thân cận người hiền (2)
Tôn kính bậc đáng kính (3)
Là phước đức lớn nhất
Sống trong môi trường tốt (4)
Được tác tạo nhân lành (5)
Được đi trên đường chánh (6)
Là phước đức lớn nhất.
Có học (7) có nghề hay (8)
Biết hành trì giới luật (9)
Biết nói lời ái ngữ (10)
Là phước đức lớn nhất.
Được cung phụng mẹ cha (11)
Yêu thương gia đình mình (12)
Được hành nghề thích hợp (13)
Là phước đức lớn nhất.
Sống ngay thẳng (14), bố thí (15)
Giúp quyến thuộc, thân bằng (16)
Hành xử không tỳ vết (17)
Là phước đức lớn nhất.
Tránh không làm điều ác (18)
Không say sưa nghiện ngập (19)
Tinh cần làm việc lành (20)
Là phước đức lớn nhất.
Biết khiêm cung lễ độ (21)
Tri túc (22) và biết ơn (23)
Không bỏ dịp học đạo (24)
Là phước đức lớn nhất
Biết kiên trì phục thiện (25)
Thân cận giới xuất gia (26)
Dự pháp đàm học hỏi (27)
Là phước đức lớn nhất
Sống tinh cần tỉnh thức (28)
Học chân lý nhiệm màu (29)
Thực chứng được Niết Bàn (30)
Là phước đức lớn nhất.
Chung đụng trong nhân gian
Tâm không hề lay chuyển (31)
Phiền não hết an nhiên (32)
Là phước đức lớn nhất.
Ai sống được như thế
Đi đâu cũng an toàn
Tới đâu cũng vững mạnh
Phước đức của tự thân
KINH A DI ĐÀ
Đây là những điều tôi đã được nghe Bụt nói vào một thời người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây của thái tử Kỳ Đà. Hồi đó cùng ở bên Bụt có một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ, trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Bụt mà ai cũng biết đến như các thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiện Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Dà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đoạ, Ca Lư Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà. Lại cũng có mặt các vị Bồ Tát đại nhân như Văn Thù, Da Dật Đà, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt.
Lúc bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo: “Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng 10 vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.
“Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.
“Này nữa, Xá Lợi Phát, ở nước Cực Lạc, có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bố thứ châu bảo, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là Cực Lạc.
“Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích chân và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng chiếu hào quang trắng, hương sen toả ra vi diệu và tinh khiết.
“Xá Lợi Phất! Nước Cực Lạc được tô điểm bằng những cái đẹp như thế”
“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Bụt ấy, người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy có thói quen buổi sang lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi cúng dường các vị Bụt đang cư trú ơ vô số các cõi Bụt khác. Đến giờ cơm trưa, mọi người đều về kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.
“Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng tướ, Anh vũ, Xá lợi, Cá lăng tần già và Cọng mạng. Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần… Dân chúng tong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.
“Xá Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo. Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.
“Xá Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và làm các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.
“Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Đức Bụt kia tại sao có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Tại vì đức Phật ấy là ánh sang vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di Đà.
“Hơn nữa, Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Bụt ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài tới vô lượng vô biên kiếp A Tăng Kỳ, vì vậy cho nên danh hiệu của ngài là A Di Đà.
“Xá Lợi Phất! Từ khi Bụt A Di Đà thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất! Số đệ tử thanh văn đã đắc quả A La Hán của đức Bụt ấy nhiều vô lượng, không thể đếm được bằng toán học, số đệ tử Bồ Tát của ngài cũng đông đảo như thế.
“Này Xá Lợi Phất! Nước Bụt kia đã được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.
“Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng, không thể kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.
“Xá Lợi Phất! Chúng sinh mọi nơi khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao? Tại vì sanh về nước ấy thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.
“Xá Lợi Phất! Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy. Vì vậy, Xá Lợi Phất, người con trai lành hay người con gái lành nào muốn sinh về cõi ấy thì khi nghe đến danh hiệu Bụt A Di Đà phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày. Người ấy, đến khi lâm chung, sẽ được thấy Bụt A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và tán loạn, do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc.
“Xá Lợi Phất! Vì thấy được cái lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng những ai đang nghe tôi nói đây hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy.
“Xá Lợi Phất, nếu trong giờ phút hiện tại tôi đang ca ngợi những lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Bụt A Di Đà thì tại phương Đông có các vị Bụt A Súc Bệ, Bụt Tu Di Tướng, Bụt Đại Tu Di, Bụt Tu Di Quang, Bụt Diệu Âm và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vì nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.
“Xá Lợi Phất, tại phương Nam có các vị Bụt Nhựt Nguyệt Đăng, Bụt Danh Văn Quang, Bụt Đại Diệm Kiên, Bụt Tu Di Đăng, Bụt Vô Lượng Tinh Tấn và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.
“Xá Lợi Phất, tại phương Tây có các vị Bụt Vô Lượng Thọ, Bụt Vô Lượng Tướng, Bụt Vô Lượng Tràng, Bụt Đại Quang, Bụt Đại Minh, Bụt Bảo Tướng, Bụt Tịnh Quang và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.
“Xá Lợi Phất, tại phương Bắc có các vị Bụt Diệm Kiên, Bụt Tối Thắng Âm, Bụt Nan Trở, Bụt Nhựt Sah, Bụt Võng Minh và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.
“Xá Lợi Phất, tại phương Hạ có các vị Bụt Sư Tử, Bụt Danh Văn, Bụt Danh Quang, Bụt Đạt Ma, Bụt Pháp Tràng, Bụt Trì Pháp và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.
“Xá Lợi Phất, tại phương Thượng có các vị Bụt Phạm Ân, Bụt Tú Vương, Bụt Hương Thượng, Bụt Hương Quang, Bụt Đại Diệm Kiên, Bụt Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Bụt Ta La Thọ Vương, Bụt Bảo Hoa Đức, Bụt Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Bụt Như Tu Di Sơn và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: “Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm”.
“Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Tại sao gọi kinh này là kinh mà tất cả các Bụt đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm?
“Sở dĩ như thế, là vì những người con trai hoặc con gái nhà lành nào nghe được kinh này và nghe được danh hiệu Bụt A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo phép niệm Bụt thì những vị ấy sẽ được tất cả các vị Bụt hộ niệm, và tất cả sẽ đạt tới quả vị giác ngộ cao tột, không còn bị thối chuyển. Vì vậy cho nên quý vị hãy tin vào lời tôi đang nói, và cũng là lời chư Bụt đang nói.
“Xá Lợi Phất, nếu có người đã, đang, hay sẽ phát nguyện sinh về nước Bụt A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ phát nguyện đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối chuyển và đã có mặt tại cõi nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy đã sinh, đang sinh, hay sẽ sinh về đó.
“Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư Bụt, thì chư Bụt cũng đang xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi, và nói: “Bụt Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi ta bà đầy dẫy năm yếu tố ô trược là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sinh những pháp môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin”.
“Xá Lợi Phất! Thầy nên hiểu cho rằng cư trú trong thế giới đầy năm loại ô trược này mà đạt tới được quả vị giác ngộ vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó tin như pháp môn này, đó là một việc làm quả là cực kỳ khó khăn”.
Nghe Bụt nói kinh này, thầy Xá Lợi Phất, tất cả các vị khất sĩ, và mọi giới Thiên, Nhân, A Tu La v.v… ai cũng phát lòng tin tưởng, tiếp nhận, làm lễ Bụt và lui về trú sở của mình.
(Sukhafvati – vyùha sùtra)
![]()
