Cẩm nang luyện tập phòng chống ô nhiễm môi trường. " Nếu chúng ta làm sạch cơ thể hàng ngày, các tế bào có thể duy trì lâu hơn" - Dr.Alexis Carrel - Giải thưởng Nobel 1912

1. TU LUYỆN THÂN TÂM.

TU LUYỆN THÂN TÂM.

Tu luyện Thân Tâm trước hết cần tìm hiểu tâm của mình thế nào?. Ai cũng tin tưởng rằng tâm trí suy nghĩ  hành động đúng để bảo vệ  ta.  Nhưng bạn không thể ngờ rằng tâm trí ẩn dấu một bí mật rất lớn. Nó chịu sự tác động của năng lượng xấu ô trược nghiệp lực, và năng lượng sạch, cùng chi phối tâm trí.

Năng lượng xấu rất mạnh, bởi nghiệp lực tích tụ nhiều kiếp sống, và  năng lượng ô trược của xã hội  thâm nhập vào cơ thể. Sự kết hợp của nghiệp bên ngoài và bên trong, rất mạnh mẽ lấn át lý trí. Nó điều hành tính tham lam, sợ thiệt, sợ mất mát, thích nghe lời giả dối hoa mỹ có lợi. Tiếp thu cái xấu rất nhanh. Ngoan cố bám chặt nghiệp lực, không thấy sự thật. Dễ tan vỡ niềm tin.

Năng lượng sạch thì hiếm hoi yếu ớt, bị đè nén dập vùi, khó ai vượt qua nghiệp. Nên tâm trí chịu sự điều khiển bí mật của nghiệp. Đó là cuộc chiến không cân sức giữa thiện và ác đang diễn ra trong tâm thức chúng ta.

Trong xã hội ô trược thì tâm trí sẽ hấp thụ ô trược. Tâm có bản photocopy kiến trược-tà kiến. Chẳng hạn những học thuyết đề cao vật chất, thói cao ngạo  coi thường lương tâm, coi thường Tạo hóa. Thói tham ăn, tham tình, tham lợi, tham tiền, tham vàng bạc, tham danh tiếng, làm lu mờ lý trí và tình yêu thương chân thành. Các cuộc chạy đua lợi nhuận, sát phạt nhau tàn khốc, kẻ khóc người cười..… Tà kiến đó  ăn sâu vào tâm trí, trở thành thói quen  bản năng thu hút ô trược về mình. Không biết  cái tai họa đang phải cõng đống rác ô trược  để rồi phát sinh bệnh tật, phiền não. Tâm ô trược gọi là tâm vô minh.  Nó nảy ra những lý luận xảo quyệt  khiến bạn thấy mình luôn đúng, người ta sai. Nó không bao giờ cho bạn biết sai lầm của mình, để bạn yên chí đi theo ô trược tăm tối. Bị dòng đời cuốn đi, mà không hiểu đi đâu. Hoàn toàn bị động rồi sa hố đau khổ. Cũng không hiểu vì sao  khổ, rồi kêu oan, oán giận, mất niềm tin, càng thêm phiền não. Quả là không dễ hiểu tâm trí  lúc đúng lúc sai.

Tâm là vùng đất thiêng, đừng để ai gieo vào hạt giống độc. Cách tốt nhất  là quay vào bên trong  nhận biết con người thật của mình. Tu sửa  từng chút một, từng hành động nhỏ, từng suy nghĩ sạch, từng cảm xúc thiện lành. không tiếp xúc thông tin tiêu cực..  Nếu giao du quá nhiều dễ bị hút vào nơi  ồn ào,  cả nể, tạo nghiệp thị phi. Thiếu thời gian tu sửa bản thân.

Người tu tâm là tu sửa các thói quen sai lầm trong ăn uống đi đứng nói năng ngủ nghỉ. Là nơi  chứa những cái nhân tạo nghiệp ngay trong cuộc sống hành ngày, chứ không ở nơi xa xôi nào tạo ra.  Việc mặc áo tu đi  hành lễ  là hình thức bên ngoài để nhắc nhở việc tu sửa các thói quen sai lầm. Sửa sai mới là điều khó nhất, vì tâm vô minh không bao giờ biết sai lầm của mình mà sửa. Muốn biết sai lầm của mình thì phải dựa vào các quy chuẩn, quy luật Tạo hóa  đã tạo dựng lên xã hội loài người. Không biết quy luật Tạo hóa cũng như việc điều khiển một chiếc ô tô chạy nhanh mà không học luật giao thông, thì không tránh khỏi bị va đập, tai nạn, đau đớn, tội ác, bị truy tố.  Cần mở tâm trí  để quan sát, học hỏi các quy luật căn bản sau:

–  Quy luật cân bằng âm dương: Là quy luật vĩ đại nhất cho sự tồn tại của mỗi người, cần có điều kiện sống đầy đủ âm dương. Nhưng không dùng âm dương  bừa phứa theo ý muốn, mà tuân theo tỷ lệ nhất định do Tạo Hóa ghi sẵn trong bộ gen ADN của mỗi tế bào ở trong cơ thể mình.  Người có TRÍ HUỆ sẽ biết sự nghiêm khắc của luật cân bằng âm dương để bảo vệ trật tự vũ trụ. Không ai cầu xin, cầu đảo, thay đổi được.  Người tu mà chống lại luật cân bằng âm dương một hành vi nhỏ thôi. Chẳng hạn nói lý do cần dùng nhiều điện thoại di động, thì sóng 5G sẽ phóng thêm khí trược phóng xạ phá não bộ. Khi phát  bệnh suy tuyến Yên, suy thận, ung thư  thì hối hận không kịp.

Trong bài Nguyên nhân bệnh tật, tôi  nói rõ từng chi tiết cân bằng âm dương trong ăn uống đi đứng nằm ngồi.

– Quy luật tình thương: Năng lượng tình thương của Tạo hóa  ban rải khắp vũ trụ giúp muôn loài phát triển tươi tốt. Gọi là điển quang, thanh điển vũ trụ, Prana, hay Niết bàn, Tây phương Cực lạc. Nơi đó một danh từ ác đạo cũng không có.  Còn gọi  là phép màu nhiệm cứu giải  bất cứ nơi nào có điển quang chiếu rọi thì nơi đó được hồi sinh sức sống. Có tình thương nào vĩ đại hơn thế ?  Đời sống chúng ta gắn bó trọn vẹn với tình yêu thương của Tạo hóa ở trong mỗi tế bào cơ thể. Người tu luyện khử trược lưu thanh để được đón nhận Điển quang, thì cuộc đời thăng hoa hạnh phúc từ đây. Có năng lượng yêu thương tràn đầy, họ sẽ tự nguyện giúp đỡ người yếu hơn. Người tu luyện chân chính  có  điển quang sáng ngời sẽ trở thành Vị Phật tương lai.

 –  Quy luật Vô thường: Mọi thứ trong  cuộc sống đều vận động không ngừng thay đổi mỗi ngày giờ. Trẻ nhỏ thì lớn lên, người già thì yếu đi, trái đất quay đều, không có gì đứng im. Có sinh là có diệt. Phải biết chấp nhận quy luật vô thường, là  đoàn tụ có ngày chia ly, có rồi mất, sinh rồi chết, không tránh được. Cần biết trước, tỉnh táo, điềm tĩnh, không hoảng loạn, không gây thêm những tổn thương cho mình.

–  Quy luật Vô ngã:  Không có ai đơn độc một mình. Tất cả  mọi người đều có mối liên quan ảnh hưởng lẫn nhau, tốt hoặc xấu. Ai cũng có hào quang năng lượng tác động vào mọi thứ xung quanh. Dù không ai biết, vẫn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến  gia đình, xã hội.  Vì vậy cần có trách nhiệm với từng suy nghĩ, lời nói, hành động của mình. Ngay từ trong suy nghĩ, không nói dối, không làm việc ác gây thiệt hại người khác.

– Luật Nhân Quả (Karma): Luật Nhân Quả thể hiện sự công bằng tuyệt đối của Tạo hóa, để giữ gìn trật tự vũ trụ. Không cho phép cái ác được lấn át hủy diệt tình thương yêu. Để muôn loài được cùng chung sống. Nếu sống sai quy luật cân bằng âm dương, thì nhận được kết quả tàn lụi, do cái nhân mình đã gieo.  Luật Nhân Quả giúp con người bớt hung hăng độc ác, có trách nhiệm với từng việc làm của mình. “Gieo nhân nào, gặt quả nấy”. Luật Nhân quả ghi nhận mọi nỗ lực của người hiền,  ghi tội của nghiệp ác. “Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi  Cực Lạc”. (Kinh A Di Đà).

5 quy luật đó rất bí ẩn  trường diễn thời gian dài hàng trăm kiếp sống, không ai hiểu hết.  Vì không biết mới sai lầm, đau khổ. Chỉ các vị Phật, Chúa, Thánh, nhà hiền triết, thiền sư, đã tu luyện Đắc Đạo, có bộ óc siêu phàm, có Thiên nhãn thông, Lậu tận thông, mới soi thấy các quy luật Tạo hóa để truyền dạy cho chúng ta.  Tu học không chỉ  để lễ lạy xin Thần Thánh Phật độ trì.  Mà tu học để học hỏi quy luật Tạo hóa, mới có cuộc sống Bình an, Hạnh phúc, Siêu thoát.

Minh sư là các vị thày  chân chính giúp chúng sanh sửa chữa sai lầm, thoát khỏi

Minh Sư là người dạy cho đệ tử nhận ra vị Thầy bên trong của mình. “Minh sư là người đã nhớ lại Cội nguồn. Và do Tình thương bao la họ đã chia sẻ hiểu biết này với bất cứ ai thành tâm cầu đạo, mà không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Họ cúng dường tất cả thời gian, tài sản riêng tư và sức lực bản thân cho Thế giới. Khi chúng ta đạt đến trình độ của Minh sư, chúng ta không những biết được Cội nguồn của bản thân, mà còn giúp được người khác biết giá trị chân thật của họ. Những ai đi theo sự dẫn dắt của Minh sư sẽ nhanh chóng thể nghiệm được một Tân thế giới, đầy Chân lý, Toàn Thiện, và Toàn Mỹ. Tất cả Chân Thiện Mỹ bên ngoài là để nhắc nhở  chúng ta đến cái thế  giới thật bên trong…Chỉ có một thứ có thể thỏa mãn linh hồn chúng ta là Chủ nhân ở  bên trong bản thể con người”

TỰ CỨU MÌNH đó là lời kêu gọi cứu thế của Trời Phật, cần Giải độc để Tự cứu mình theo đúng luật Tạo hóa cân bằng âm dương, nhân quả… Để cân bằng âm dương, phải biết đào thải cái dư thừa, là  giải độc, giải nghiệp lực đang đè nặng đời ta.

Con đường giải ô trược đã được nhắc đến từ lâu. 5000 năm trước các nhà hiền triết Phương Đông chỉ rõ thủ phạm ô trược nghiệp lực gây ra nỗi đau tinh thần và thể xác.  Việc thanh lọc ô trược được các bậc Đại Trí Huệ tìm hiểu và rèn rũa từ lâu đời.

Đức Phật Thích Ca là Đức Phật Thế tôn trên Trái đất, đã chỉ cụ thể ngũ trược là 5 loại nghiệp bủa vây đời người, là nguyên nhân của mọi khổ  đau bất hạnh. Sau 49 năm giảng Đạo lý Đức Phật Thích Ca đúc kết  phải quay vào bên trong để tu sửa: “Tham ái là nguyên nhân của tất cả bất hạnh. Mọi vật sớm muộn cũng sẽ biến đổi, đừng nên bám víu vào bất cứ cái gì. Tốt hơn hết nên dốc lòng thanh lọc tâm trí. Hãy tự mình tinh tấn để đạt được giải thoát. Các vị Như Lai chỉ là người chỉ đường”. Đạo Phật  đã mở đường tu tâm phước đức, giúp con người hướng thiện, biết làm phước đức, làm điều lành, lánh điều ác, bớt hung dữ. Nhưng nhiều người Tu Phước để cầu xin các vị Phật độ trì, mà không biết tự mình tinh tấn thế nào. Nên Đức Phật Thích Ca đã tiên tri sau này sẽ có Đức Phật Di Lạc thực hiện giai đoạn tiếp theo.

Những điều kinh hoàng đang xảy ra với thế giới hiện nay, đã được Đức Phật Di Lạc cảnh báo từ thế kỷ trước. Năm 1951-1952  có 10  bài thuyết giảng của Đức Phật Di Lạc giảng qua thông thiên học. Chuẩn bị cho nhân loại có nhận thức mới về con đường  tu TRÍ HUỆ. Bằng hình thức hỏi đáp, cho các vị tu sĩ nêu ra những câu hỏi vướng mắc trong việc tu luyện, được Đức Phật Di Lạc giải đáp. Những tình huống nan giải đã được Đức Phật gỡ giải ngay lập tức. Qua đó hiện lên con đường Phật Đạo, tiếp tục quay vào bên trong, mở TRÍ HUỆ hiểu sâu sắc bộ máy TẠO HÓA, cả bên trong và bên ngoài bản thể, để biết cách tự mình tinh tấn,  giải nghiệp. Đó là điều mong đợi của nhiều người, và các vị Phật cũng mong đợi con người biết cách giải nghiệp.

Là một cư sĩ  đã tu giải thoát nhiều tỷ năm  khỏi cõi tam giới, Đức Phật Di Lạc không bao giờ mang xác phàm nữa. Vì vậy  giảng bài bằng thần giao cách cảm qua thông thiên học, giảng cho các vị Bồ Tát hiểu trước, rồi truyền đạt lại cho chúng sinh.

Với  trí tuệ vô biên của vị Phật Thiên Tôn ở  tầm cao vũ trụ nhìn xuống, Đức Phật Di Lạc chỉ ra  các sai lầm của xã hội loài người, mà không  ai tự nhìn thấy được. Từ hữu vi đến vô vi. Từ việc lớn đến việc nhỏ như cái kim. Từ việc ăn ở sinh sống lấy vợ lấy chồng sinh con cái, tu học, có sai lầm gì, cần sửa  thế nào. Cho đến việc  tu học Phật Đạo, tu học Hư không Đạo thế nào. Không ai còn phải nghi ngờ tại sao chưa giải thoát.

Bước đầu tiên  là tu Phước Đức, cần đọc và suy ngẫm bản kinh Đại Phước Đức của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Người có nhiều PHƯỚC ĐỨC mới học được phương pháp mở TRÍ HUỆ. “Sau khi nghe những thời pháp của Đức DI LẠC thì chúng ta ngộ được Như Lai thọ, nên toàn thể kẻ mê rồi tỉnh đều sống một đời sống Thánh Đức Kim Thân 5000 năm”.  “Phật Đạo là một bước đường đưa con người đến Chánh đẳng Chánh giác, gọi là giải thoát hoàn toàn”.

VẠN PHÁP QUY NHẤT của Đức Phật Di lạc. Là thực hành 8 giai đoạn tu thành Phật, như sau:

– “ Giai đoạn 1: Là đi đứng nằm ngồi Niệm Phật. Phá cái ngã đi đứng nằm ngồi.

–  Giai đoạn 2: Khử trược lưu thanh bằng  ăn uống, nhịn ăn.

– Giai đoạn 3: Hành pháp môn nấu bầu âm dương, và thở theo vô vi pháp để tinh khí thần quy tựu lại.

– Giai đoạn 4: Dùng tư tưởng tập trung vào chỗ không, để nó tỏa ra khắp chỗ nào nó trụ mà không trụ, mới là trụ

– Giai đoạn 5: Bế hẳn cái cửu khướu của mình, và bế hẳn cái cửu khiếu bên trong nằm tại trái tim.

– Giai đoạn 6: Tinh khí thần đã đầy đủ, tề tựu về Hỏa hầu, và  nó chạy lên Nê Hườn Cung là ngay cái đỉnh đầu. Các rễ nhỏ nhứt của Thần kinh hệ, nhờ dịp Khai mở Nê Hườn Cung này, mà nó thu hút điển quang bên ngoài vô trong để làm một CÁI MÁY LỌC tốt vô cùng. Là pháp môn Đốn giáo, tu tắt để khai mở rất lẹ làng, cho đời Thánh đức sắp đến.

– Giai đoạn 7: Khi Nê Hườn Cung đủ thu hút điển tiên thiên, thì nó bắt đầu vận chuyển ra trước trán để mở luôn cái khiếu Lậu tận minh là Huyền quang khiếu

– Giai đoạn 8: Trở thành sự sáng đã có, vị Phật này phải đủ sức chịu đựng với mọi thứ khảo đảo. Và những điểm chứng minh đã thành:

Thời tiết thay đổi mà trong cơ thể không đau, đó chính là lúc biết mình đã hết bệnh căn rồi.

Bị ma khảo mà không nhúc nhích.

–  Không ngủ nữa mà không biết mệt

–  Không thấy sự ăn nữa, vẫn còn ăn để cho qua bữa mà thôi

–  Nước miếng lúc nào cũng ngọt ngào

– Làm việc suốt ngày mà không thấy mệt

–  Cơ thể nhẹ nhàng khoan khoái như ở vào một thời tiết giữa mùa thu.

TRUNG TÂM THẦN KINH HỆ trong giai đoạn này tiếp những luồng sóng điện khắp vũ trụ. Và những cái thấy mà các chuyên viên kỹ thuật không thấy được, là dưới tận đất thấy rõ những nguồn lợi siêu nhiên mà giành để cho đời Thánh Đức. Thấy được cơ thể con người, đau ở chỗ nào, và trị cho họ hết bởi nhờ có đủ Tinh Khí Thần. Nhưng cũng không phải trị cho người bệnh mãi. Và phải chỉ cho người cách hành pháp để nuôi dưỡng lại tinh ba của họ. Chúng ta là cái bình điện mới, đầy đủ điện. Người đau là cái bình hết hơi, chúng ta chỉ truyền cho họ một mớ nào đó, để cho bình điện họ có điện trở lại và chạy được. Đến khi họ chạy được thì họ phải tự sạc cái bình của họ”

CÁC BƯỚC CHỮA LÀNH  CỦA VẠN PHÁP QUY NHẤT:  Chữa lành bệnh là quyền sống căn bản nhất của con người. Nếu không chữa được bệnh, thì chưa phải là pháp.“Tất cả các pháp đều xuyên qua sanh chúng bịnh. Nếu không định được thì chưa phải là pháp”

  1. Trước hết phải TRI NGUYÊN nguồn gốc sinh ra bệnh, là do tư tưởng xấu, ăn uống sai, khí thở xấu, hệ thần kinh bị kẹt. Là những nguyên nhân căn bản sinh ra bệnh. Dùng điển quang để chữa lành.

TƯ TƯỞNG: “Các chứng bịnh sanh ra, do tư tưởng có trước nào là tính sự ăn uống, nào là tính sự dâm dục vì ăn ngon, nên sanh ra dâm. Khi nhập dâm rồi thì các cơ quan bị yếu và sanh ra các chứng bịnh nào là ung thư phổi, gan, ruột, tim, thận, tỳ, tạng, thành ra phải bị đau.  Mà con người vì không biết mình mê, nên mãi với điệu bộ củ ríc mà cho là văn minh”.

ĂN UỐNG: “Ngũ uẩn bên trong là Gan, Tim, phổi, dạ dày, và thận. Bởi sự ăn uống mà nó sanh ra chứng bịnh.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ngũ uẩn bên ngoài. Sắc là thể chất. Thọ là thích thú. Tưởng là tư tưởng. Hành là việc làm. Thức là phân biệt.

Khi sự ăn uống quá độ thì ngũ uẩn bên trong phối hợp với bên ngoài để hành cái xác thân… Vì sự ăn mà sanh ra các chứng bịnh. Vì hiện tại là đang mê. Cho nên khi tỉnh thì biết những món ngon kia dù có cho rằng ngon cũng không dám ăn”.

“Tại làm sao mà đau. Tại vì ăn mà ra. Nếu hiểu được như vậy con người không còn đau. Mà những kẻ ăn trai trường còn tính sự dâm dục thì lại càng tai hại nhiều hơn nữa. Là vay thêm nhiều chứng bệnh khi bị kẹt trên con đường dâm ô”

KHÍ THỞ : “Khi con người không dùng LÝ TRÍ để  xét tận nguồn gốc sanh ra cái khổ. Khi thở là thở không khí trong sạch, nhưng tư tưởng dơ và không khí  dơ vô nó hòa với cái dơ của tư tưởng rồi chạy khắp cả cơ quan trọng yếu trong thân, thành nó sinh ra dơ bẩn Lục căn… thì phổi xấu, gan xấu, tim xấu, thận xấu thì sanh ra đau”

HỆ THẦN KINH BỊ TÊ LIỆT: “Tay chân nhức nhối, là hệ thần kinh chỗ đó bị tê liệt. Mắt đau nhức là Thần kinh hệ không chiếu ra nơi đó. Và những cơ quan nào đau, cũng do Thần kinh hệ không chiếu ra nơi đó được, vì nó đã bị tê liệt bởi sự Tham Sân Si (ô trược)…chỗ đó sanh đau, có ngày sẽ bị hoại, phải cưa, mổ sẻ chi đó ”

“Khi các ngươi tu Hạnh BỒ TÁT thì phải TRI nguyên nhân nào sanh ra những BỊNH. Bởi cái đầu các ngươi không TRI nó, nên đến khi BỊNH không lành, là tại các ngươi không biết trước. Như một học trò, không học Cửu chương thì làm sao làm được 4 phép Toán”

“Y sĩ nhiều khi cũng phải khoanh tay, vì các nghiệp lực của chúng sanh đa bệnh. Nhưng rồi nhờ được cái sự TRI NGUYÊN mà con người là Phật kia, lại giải được cái độc của chúng sanh.

Bởi vậy cho nên ai đã biết TRI NGUYÊN, thì đó đã là vị Phật tương lai rồi, và cũng có thể là vị Phật hiện tại nữa”

  1. DÙNG ĐIỂN QUANG để chữa lành. Trước hết phải tu sửa tâm tính, phá cái ngã của ăn uống, đi đứng nằm ngồi. Thực hành niệm Phật tại tâm. Khử trược lưu thanh bằng ăn uống, nhịn ăn. Hành pháp môn nấu bầu âm dương, và thở theo vô vi pháp. Bế cửu khướu, để tinh khí thần quy tựu lại đầy đủ. Nhờ dịp này được Khai mở Nê Hườn Cung, mà  thu hút điển quang bên ngoài vô trong để làm một CÁI MÁY LỌC giải độc cho cơ thể. Khi điển quang đầy đủ, cơ thể đã thanh sạch, hết bệnh, mới đi chữa cho  người có bệnh.  Nhưng nếu tu mà còn vọng tâm thì hệ thần kinh trở lại tam độc, không được đi chữa bệnh cho người khác.

“Từ mỗi NGÓN TAY NGÓN CHÂN đều là bộ máy của Trung tâm Thần kinh. Do đó khi con người tu CHƠN CHÁNH rồi dùng tay rờ mó vào chỗ nào đau của bệnh nhân thì rờ đâu hết đau đó. Bởi TRUNG TÂM THẦN KINH HỆ ĐÃ THANH TỊNH không còn Tam độc nữa, nên khi rờ vào chỗ đau thì hết. Vì người rờ đó đã hết bịnh nên mới  chữa cho kẻ  có bịnh, và truyền cái điển không bịnh cho kẻ có bịnh, nên phải hết. Nhưng khi nào con người tu chơn mà  vọng tâm, thì trung tâm thần kinh hệ trở lại tam độc, thì chính lúc đó chữa bịnh, bịnh lại thêm.

Không khi nào bình điện hết, vì cơ thể đã thanh sạch, thì sự truyền sang cho kẻ khác không bao giờ chúng ta mất, vì khi truyền có thêm khi truyền. Nhưng khi nào  tu mà vọng tâm, thì chính lúc đó chữa bịnh, bịnh lại thêm”.

“Nếu không biết cách rút điển quang  từ ngoài vô trong,  còn 1008 cái huyệt từ đầu ngón tay, ngón chân, sợi tóc, nó bị bít vì tham sân si”.  Nhờ có Điển quang Giải độc mà Vạn pháp quy nhất chữa bệnh toàn diện cả Thân và Tâm

VIỆC THỰC HÀNH VAN PHÁP QUY NHẤT:  5 giai đoạn đầu của Vạn pháp quy nhất,  là môn Tịnh độ của Đạo Phật đã thực hành 2500 năm. Nhưng phần lớn không mở được Nê Hườn Cung. Cho đến nay Vạn pháp quy nhất chưa triển khai được.

SỰ RA ĐỜI CỦA PHƯƠNG PHÁP VÔ THỨC đã thành công khai mở Nê Hườn Cung, trong 6 tháng-1 năm.  Hệ thống bài tập Vô thức trùng hợp kỳ lạ với các giai đoạn của Vạn Pháp quy nhất, nhưng thời gian rút gọn, dễ hiểu, dễ thực hành hơn. Để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp của chúng sinh.

Bài tập số 1:  Bài tập thể dục chậm đã  thải độc mạnh mẽ. Vì kết hợp giữa Thiền động và Thiền tĩnh.  “Nếu ngồi một chỗ mà Thiền thì bộ máy kia không phát ra sự chuyển động của nó. Như một chiếc xe hơi mãi rồ máy mà không lăn bánh thì cũng bị đứng mãi một chỗ thì những người ngồi trên xe không đi tới nơi”.  Cùng với cách ăn uống cân bằng âm dương.  Đã nấu bầu âm dương một cách sâu sắc, rút ngắn 5 giai đoạn đầu của Vạn pháp quy nhất, chỉ còn là 6 tháng cho bước chuẩn bị  khai mở  Nê Hườn Cung.

Bài tập số 2: Kích thích tiềm năng  ngón tay chân, để Khai mở Hà Đào Thành cũng là tên gọi của Nê Hườn Cung. “Không còn là cái Bí pháp chơn truyền nữa, mới mong giải thoát được”. Hà Đào Thành trở thành CÁI MÁY LỌC tốt vô cùng để GIẢI ĐỘC cho cơ thể. Là pháp môn Đốn giáo, tu tắt để khai mở rất lẹ làng, cho đời Thánh đức sắp đến. Rèn luyện 1 năm đã bước vào giai đoạn 6 của Vạn Pháp quy nhất. Nhờ thu hút được Điển quang, mà người bệnh giải tận gốc bệnh cho bản thân. Thân tâm  chưa thanh tịnh, không được đi chữa bệnh cho người khác. Nhưng  dễ dàng làm phước đức mách bảo cho người bệnh đọc sách tu luyện Thân Tâm tự chữa lành. Đó mới là tình thương cao cả nhất.

Bài tập số 3. Dùng tiềm năng ngón tay chân khai thông kinh mạch,  giải độc tự chữa lành Thân Tâm.

Bài tập số 4: Dùng tiềm năng ngón tay chân giải độc não bộ,  khai thông hệ thần kinh qua các  phép  thiền đặc biệt:  thiền Hà Đào Thành, Thiền Kinh mạch, Thiền Nguyên khí, Thiền Trường sinh. Mỗi phép thiền có một vai trò cần thiết. “Mỗi lần thiền là điển quang từ ngoài chiếu vào trong, có phải chắng là các ngươi rút điển quang bên ngoài để nuôi ngũ ấm của các ngươi chăng ? Đó là thiền bất luận ngày giờ lúc nào bên ngoài thân đều cũng có điển quang tất cả. Thiền ngay cái ruột, thiền ngay cái tim, thiền ngay cái gan, thiền ngay cái phổi, là những triệu chứng cứu cánh cho tinh ba ngũ ẩm sẽ được sống lại”

Bài tập số 5: Tập Nhập thất chuẩn bị Nhập định

Bài tập số 6:  Nê Hườn Cung  hoạt động mạnh mẽ, nhận điển quang dồi dào thì Nhập định. Đã bước vào giai đoạn 7 . “Để phá những cái màn vô minh che lấp mỗi cái huyệt Tiên thiên của Bồ tát”. Tiếp tục  khai mở Huyền Quang Khiếu,  được thông suốt hệ thần kinh là bước vào giai đoạn 8 của Vạn pháp Quy nhất.

Đó là 2 thành tựu song tu vừa Đời vừa Đạo của phương pháp Vô thức. “Đang ở tại cõi địa ngục mà không khổ là Tây phương Cực Lạc rồi”.  “Là lập Tây Phương Cực lạc tại trần thế này”. Sống mãn nguyện Niết Bàn tại thế, Thiên Đường  tại thế ngay tại một kiếp sống, không phải chờ bao xa ở kiếp nào.

Tùy  khả năng tiếp thu mà có ứng nghiệm ngay. Nếu chúng ta  hiểu được 50% sẽ chữa được 50% bệnh của Thân và Tâm. Hiểu 30%  thì chữa được 30% bệnh của Thân và Tâm.  Hiểu 100%  thì chữa lành các bệnh. Ai chưa hiểu thì không nên áp dụng, cũng không vì thế nói lời tổn đức gây hại bản thân. Tu nhiều kiếp nữa, sẽ tỉnh ra.

Khi thế giới hết thuốc chữa, thì người tu chân chính vẫn sống tươi tốt. Và đủ năng lực xây dựng cuộc sống mới. Có thể tu thành Phật. Đã được sáng tỏ từ Vạn pháp Quy nhất.

Lòng biết ơn là một năng lượng kỳ diệu thu hút  TRÍ HUÊ chuyển vào  tâm mình,  cho chúng ta trưởng thành. Biết ơn Tạo hóa, Thượng Đế, Đức Phật, Đức Chúa, các vị Thánh nhân, các vị Thày. Đã mở đường Trí Huệ giúp chúng ta biết cách vượt khó khăn. Biết ơn Tổ tiên ông bà cha mẹ đã thương yêu mình. Biết ơn người ác đã làm mình khổ, để mình tỉnh táo hơn. Biết ơn bạn bè đồng nghiệp. Biết ơn bệnh tật đã cho mình bài học lớn. Biết ơn Cơ thể đã tận tụy phụng sự, cho ta bài học lớn.

Khi phai nhạt lòng biết ơn, thì những gì đã đến cũng phai nhạt và có thể mất đi.

Không phải chờ hình thức nghi lễ mới bày tỏ.  Mà luôn trong tâm khảm tập nói lời bày tỏ lòng biết ơn. Tấm lòng chân thành ấy được Trời Phật đáp lại bằng điển quang màu nhiệm xuyên qua màn vô minh đen tối. Thiên Địa Nhân đồng nhất thể, nghĩa là Trời Đất và Người thương nhau như một.

Cơ thể là đền đài thiêng liêng của Tạo Hóa ban cho, cần được quét dọn sạch sẽ để đón nhận tương lai tươi sáng.  Chiến thắng bản thân là chiến thắng vinh quang nhất.

ĐOÀN THANH HƯƠNG

 

LỜI DẠY QUY BÁU CỦA ĐỨC PHẬT DI LẠC. 

10 bài giảng  của Đức Phật Di Lạc đã có từ thế kỷ trước. Có hàng ngàn bản được phát ra. Nhiều vị tâm linh đã đọc. Nhưng chìm trong im lặng, không ai bước ra khỏi thế giới ô trược, để biết cách giải độc cho cơ thể.  Tạo hóa tiếp tục xoay vần.

Đầu xuân năm 1999 tôi nhận được thông điệp  qua cơ bút của một nhà ngoại cảm ẩn danh trong vùng rừng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh.  Chỉ có 10 dòng chữ  giải thích họ tên của tôi  ẩn chứa một con đường thống nhất hương thơm tình đời. Một  việc khó khăn ngoài sức tưởng tượng của tôi.

Từ đó nhiều tài liệu quý báu, và các duyên lành cứ tuần tự đến, giúp tôi có kiến thức vượt bậc về minh triết Phương Đông. Tất cả được nghiên cứu trải nghiệm qua chính bản thân tôi, để sàng lọc cái gì chưa hợp lý.

Tôi vững bước tìm ra cánh cửa Hà Đào Thành đón nhận Điển quang.  Vượt qua  những thử thách khảo đảo dữ dội nhất, để có kinh nghiệm giúp đỡ hàng ngàn người vượt khó khăn.

Phương pháp Vô thức đã hé lộ tình thương yêu vô tận  của Tạo Hóa suốt mấy ngàn năm, đã cử nhiều vị Phật, Chúa, Thánh nhân, đến thức tỉnh con người giải thoát khổ đau. Để có ngày được đón nhận Điển quang của Trời Phật.  “Vạn ức niên mới có một thuở này, nếu không tỉnh thì chắc là khó mà tìm gặp lại dịp may mắn này”.

Lời dạy quý báu của Đức Phật Di Lạc đã giúp đỡ  người luyện tập Hà Đào Thành được trưởng thành nhanh chóng. Chúng ta cần suy ngẫm, hàng ngày đọc lời dạy của Đức Phật Di Lạc để mở ra TRÍ HUỆ. Đọc 100 lần, 10 000 lần  in vào trí nhớ. Khi tâm đã ghi nhớ, thì suy nghĩ và hành động của chúng ta đã thuận theo ánh sáng TRÍ HUỆ của Đức Phật.

“Mọi người có mặt hôm nay nên chủ tâm nghe lại một thời pháp từ 10 tỷ năm về trước tại quả địa cầu 67, trên chúng ta một bậc, khi đó chúng sanh cũng nghe như ngày hôm nay thời pháp để giải cứu vi tế BỒ TÁT còn vướng lấy cái thương nhầm chỗ, cái ghét không đúng chỗ”.

“Đức THÍCH CA MÂU NI với ta đã nguyện: Ngài nguyện đi trước dọn đường để lập LONG HOA ĐẠI HỘI. Ta là kẻ đến sau, để cùng với ngài phán xét. Cái Hạnh của Ngài là độ mà chẳng có độ, vì Ngài là lương y giỏi, cho toa bốc thuốc, nhưng chúng sanh uống hay không là tùy chúng sanh. Và khi Ta đến, thì chúng sanh đã gần rã ra từng miếng thịt, ta mới đến”.

”Mỗi lần quả địa cầu nào sắp thuần dương là có Ngài, có Ta. Ngài đi trước, ta đi sau. Ta gánh nặng của Ngài để lại từ Vô thủy vô chung, mà cũng vì lời nguyện mà ta phải gánh đó. Mà Ngài cũng vì lời nguyện đi trước dọn gánh nặng cho ta”.

Đức Phật Di Lạc thấu hiểu nỗi khổ cùng tận của con người:

“Khổ vô cùng khổ, cho đến nỗi các chư Thánh, Tiên, Phật phải chau mày vì cái khổ của nhân sanh đã gieo“.

“Và trong chỗ khám đường, trong các bệnh viện, những cảnh khổ hàng ngày đã thấy, đều là chính bản thân mình đã bị giam hãm nơi chỗ khổ đó.

“Con người mãi trầm mình trong bể lửa. Nhưng có ai biết mình đang bị nóng. Vì sức nóng đang thiêu đốt kia, nó không phải như lửa của thế gian. Nó từ từ cháy, nó cháy đến khi con người, thấy được nó, tức là sự khổ, mà hiểu được sự khổ, là con người như điên, như dại. Không còn lương tri nữa”.

“Khi con người lãnh được những bản án của thế gian ban cho, nào là nghiệp vợ, nghiệp chồng, nghiệp con, v…v… cái gì mà loài người cho là sướng chính đó là nhà lửa. Nhưng có mấy ai đã hiểu được cái nhà lửa, đó đang cháy ngấm ngầm, rồi một ngày nào kia, nhờ ngọn đông phong, sẽ phất lên, và nó sẽ phừng lên. Khi đó ngọn lửa hồng bắt lên và than, bụi, bay lên nghi ngút.

Chừng đó con người, mới biết là nhà của mình cháy. Phải chi lửa còn ngún, thì lo chữa đi, có đâu nhà phải bị cháy.”

“Mà không phải các ngươi khổ một mình, bịnh khổ đó lây đến Ta nữa, thành Ta phải xuống đây để giải cái khổ cho các ngươi”.

“Sắp bắt đầu, mở một màn rung chuyển toàn thể nhân loại, những điểm mà nhân loại chưa từng thấy hoặc nghe…Cho nên sẽ đến với cái không bao giờ nhân nhân loại đã thấy, và sẽ thấy.”

Đức Phật Di lạc chỉ ra sai lầm của chúng sanh:

“Tu thời đông mà không ai đắc, là bởi nhiễm cái ác trược kia, rồi khuyên người, người không nghe. Có nghe đi nữa là nghe những cái sái, mà không biết là sai, nên con người đã hư đốn sẵn rồi, khi nghe lời sái là nhiễm luôn. Ôi thôi! Kiếp phù sinh làm sao giải được cái nghiệp lực của chúng sanh”

“Cái biết của chúng sanh là : Biết xuyên qua những sự vô minh che lấp, chớ không phải biết bằng TRÍ HUỆ, cho nên chúng sanh mãi khổ vì cái biết”. “Vì cái BIẾT VÔ MINH, nên mải thích hợp với cái VÔ MINH, dù có ai muốn xé dùm cái VÔ MINH cũng không thể nào giải được”

“Vì chưa thấy cái khổ, cho nên lấy vật chất làm đầu, lấy vọng tâm làm chính, lấy hình tướng là căn bản”.

“Nếu các ngươi có một tia tư tưởng nhỏ nhen nào thì chính đó là hột giống bắt đầu sanh nở vào cõi ác đạo”

“Chỉ có một tiểu xã hội, là gia đình, mà con người không đủ LÝ TRÍ xét trước cái khổ để giải cái nghiệp trước, lại mang đầu vào trong cái đại khổ, thì chắc chắn rằng con người, không bao giờ tránh được cái nghiệp sát. Bởi sự khổ quá, mà không đủ  LÝ TRÍ để giải thì con người phát sanh ra hằng hà sa số nghiệp sát… Đó là trạng thái của một kẻ mất tình yêu, tình yêu bị cắt bớt”

“Không gì đau khổ bằng bị một người vợ chia sớt tình yêu đã hẹn trăm năm đầu gối tay ấp, nhưng các ngươi đừng cho rằng khổ. Chính đó là  tại các ngươi đã vay thì phải trả. Vì chính các ngươi được trả nợ mà các ngươi không biết. Đừng buồn phiền. Nếu còn trách Trời Phật không công bằng để cho các người phải chịu cảnh đó, nhục nhã với bạn bè, chính là lúc các ngươi còn vay thêm nợ mới nữa.

Hoặc khi bị người chồng chia sớt tình yêu với một người nữ, các người nữ này đừng vì thế mà phải ghen tuông hay khổ tâm. Chính đó là tại các ngươi đã vay, thì phải trả”.

“Các ngươi đừng lấy làm lạ khi gặp cảnh khổ kia. Vì ai sắp thành Phật, mới có gặp những cảnh khổ đó, còn hàng Thinh văn, Duyên giác không bao giờ gặp cảnh đó. Vì hạng này còn phải trải qua hằng  hà sa số kiếp nữa mới thành Phật, từ từ họ trả.

Còn các ngươi và Ta phải trả rút, phải trả trước cái cảnh khổ đó, nếu các ngươi sợ thì các ngươi phải trở lại hàng Thinh văn, Duyên giác chớ không ở trong giới Bồ tát cho được”

“Hai vợ chồng trong sạch là từ tư tưởng đến vật chất, thì sanh con khôn ngoan, trí huệ đầy đủ. Cha mẹ đần độn vì chỉ lo sự ăn uống, dục vọng, sân hận thì sanh ra con như cha mẹ chúng vậy”

“Nếu ngươi là tu sĩ, một lời vọng ngữ khi giảng đạo, sẽ sanh vào vạn nẻo ác”. “Dù ngươi nói lời lành tiếng phải, nhưng ngươi không làm sao cảm hóa được kẻ nghe, vì điển quang của ngươi đã ô uế rồi khó mà cảm hóa được kẻ nghe. Bởi vậy cho nên buổi Hạ ngươn thánh ít, phàm nhiều là vậy”.

“Cho nên lắm kẻ tu mà không thành ở chỗ còn lớn cái ta, mà cái ta này là cái ta phàm phu”

“Vì cái Tham vọng cá nhân của ngươi quá to, muốn cho Thiên hạ về với ngươi. May là ngươi chỉ là một Pháp sư thôi, nếu ngươi là một vị Lãnh tụ của một Quốc gia, ngươi sẽ gom thâu lục quốc tế về với ngươi, thì sanh ra  biết bao nhiêu khổ cho chúng sanh vì nạn binh đao”.

“Hay có thể nói rằng các ngươi vì dục vọng quá  nhiều làm cho các chúng sanh vì lầm lẫn lời vàng tiếng ngọc  của các ngươi, mà bị đi vào con đưòng u minh”.

“Ma kiêu ngạo dẫn các ngươi giảng  cho hay, cho cao để chúng sanh đâm lòng ngạo mạn thêm cộng chung với các ngươi, rồi cả hai đều sa vào cõi Diêm phù ác quỷ.

“Ma kiêu ngạo tấn công  Pháp sư, đến tấn công chúng sanh, rồi ma dâm nối gót theo sau để tấn công hai đàng đi vào con đường Ngạ quỷ súc sanh”.

“Những cái muốn làm cho người tốt, lại là cái dục vọng, chứ không phải do cái Tứ vô lượng tâm của kẻ thánh hiền muốn đem ra để cứu vớt nhơn  sanh. Vì vậy từ nguyên thủy đến nay cũng do lòng phàm của con người xây lên, rồi ngã xuống”. “Cái gì do lòng tham vọng sẽ ngã xuống, để thay thế cho những cái tự nhiên nó lên”.

“Vì là cái vọng tâm của con người muốn hiện tại sẽ thành một cảnh THIÊN ĐƯỜNG NHƠN TẠO, nhưng rồi cái vọng tâm kia sanh ra máu đào, vì con người lúc nào cũng muốn cho có cái đẹp, lại sanh ra cái tâm phàm để cướp bóc cho nhiều hơn nữa. Rồi những cái xây dựng tốt đẹp kia trở thành bãi…”.

“Kiếp này là kiếp cộng nghiệp, mọi người đều phải trả, dù là kẻ đó tu hành cách nào”.

“Bởi chữ Đạo con người không Tri nguyên được nó bởi đâu mà có cái Đạo. Khi không biết được nó là cái gì, rồi kẻ tu đạo lại ôm mãi nó, không cho ai mổ xẻ coi đó là cái gì. Rồi kiếp này sang kiếp nọ, mãi ôm cái nợ chữ Đạo, rồi cũng mãi ôm nữa mãi, cho đến cái đời hạ ngươn này nhưng kẻ đó vẫn ôm cái Đạo đó để rồi vô phương giải được cái Vô minh“

“Vì không đủ LÝ TRÍ xét tận cùng cái khổ, mà ngày hôm nay các người đã phải khổ vì vạn nẻo các người đã khinh thường”

“Thì bản tính ngạo mạn vẫn còn, nên đến Chơn lý chưa soi thấu được ngũ ấm các ngươi.  Nếu các ngươi vì Ta, và vạn dân bá tánh, thì hãy gột rửa bản lai kiêu ngạo kia, sẽ thành Chánh đẳng, Chánh giác”

“Buổi Hạ ngươn lắm chông gai, và hầm hố, nếu các người không biết thấy bằng mắt Trí Huệ, là sẽ bị đến chỗ không tròng, nghĩa là mắt mù vậy. Vô phương cứu chữa những bịnh không phải bịnh, những thuốc không có thuốc, vì con người đâu có con mắt nữa, mà nhận định đó là thuốc hay không phải là thuốc, hay bịnh hay là không bịnh, vì đã là xác không hồn rồi làm gì còn Trí Huệ để xét được cái của mình hay cái của người ta. Bần đạo muốn nói rõ, là bị mượn xác hẳn, không còn ông nầy hay ông nọ, bà kia, hay bà nọ nữa. Vì xác đã bị họ chiếm rồi. Ôi thôi ! Tu như vậy, thì tu làm chi.

 Không khí hiện tại nghẹt bởi những vong hồn, đang chờ đợi để mượn xác thân. Nếu ai không biết sống, chính họ mượn ngay cấp kỳ”.

Giải pháp giải khổ của Đức Phật Di Lạc, chỉ  ra những điều  chấn động tâm thức chưa từng ai nghĩ tới:

“Sứ mệnh của PHẬT DI LẠC là sẽ hoàng hóa toàn thế giới một nhịp một nhàng không còn nhiều mối đạo như ngày hôm nay nữa. Khi Đức DI LẠC ra đời  loài người sẽ sống một cuộc đời an lạc, mọi loài là Thánh, dù ai dữ cũng hóa hiền, dù câu mâu đến đâu con người cũng hoàn lại NHƯ LAI TÁNH” .

Phải chăng Đức Phật Di lạc sẽ độ trì cho nhân loại trở thành hiền đức ?  Ngài không độ cho ai cả, mà đưa ra Giải pháp thực hành, giúp con người tự tu tự giải nghiệp mà  trở nên hiền hòa.

“Họ muốn làm sao chỉ đá hóa vàng, chỉ Trời trời gầm sét..v.v… là những điều mị mộng từ ngàn xưa cho những kẻ mò kim đáy biển, thì hôm nay bần đạo muốn nói  với quý vị là đừng vì một lý do không chính đáng mà tin những lời không ăn nhằm chỗ nào cả”.

“Ta đến đây không độ cho các ngươi, mà TÌM GIẢI PHÁP nào cho đúng với cái Đại lợi mà ta nói ra, để tùy căn cơ mà GIẢI ĐỘC cho các ngươi”. “Ta là người đã hết nợ, các người còn nợ gì chưa trả được, dù là nợ đó khó đòi đến đâu, Ta cố gắng để tìm GIẢI PHÁP mà giúp cho các người trả cho rồi”

“Không có vị nào độ cho vị nào”.  “Không có ai thành Phật rồi tu giùm cho chúng ta cả.  Thì tự nhiên cũng thấy không cần biện minh ra, thử hỏi Đức Thích Ca, Đức Chúa Jesus Christ có ai thấy hai vị Thánh Nhân này tu giùm cho ai chưa ?”

“Bậc NHƯ LAI lúc nào cũng đủ phương tiện giúp chúng sanh thành Phật, nhưng chẳng bao giờ lại độ chúng sanh ra mặt”. “Nếu Ta giành trả hộ thì  ngươi mãi mãi không tiến hóa được”

“Thân con người thanh sạch khi còn ở trong bào thai. Và khi ra đời thì bị nhiễm đời, dơ uế một phần và lớn lên bụi trần che lấp dơ thêm một phần nữa. Và đến lớn dơ thêm nhiều hơn, rồi cũng nhờ biết tu mà tẩy trược lưu thanh, rồi thân cũng thuần dương”. “Để biết trước những sự việc sẽ xảy ra, con người phải tu học, mà tu học về sự sáng”.

“Nói về sự giải khổ, thì con nguời phải giải cái nghiệp lực của mình. Sanh nghiệp lực là do sự sai khi ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi đó. Nếu không biết giải, tức là mỗi giây đồng hồ nó sanh ra không biết bao nhiêu tội ác”.

“Giải cái nghiệp lực vừa nói trên, vì sự ăn uống, đi, đứng, nằm, ngồi đều là những trạng thái của nghiệp. Sanh nghiệp là do sự ăn uống, đi, đứng, nằm, ngồi đó. Nếu không biết giải, tức là mỗi giây đồng hồ nó sinh ra bởi không biết bao nhiêu tội ác”.

“Đã có vay thì phải ráng mà trả, đừng thở than nhiều hay ít. Ai chịu đựng nổi thì cứ trả, trả rồi sẽ thành, đừng vọng tâm lúc đang trả. Kẻ nào nhẹ nhàng kẻ đó trả rồi. Kẻ nào còn nặng nề, là kẻ đó chưa trả rồi”.

“Không khó như các ngươi tưởng mà mải lo Đông, lo Tây, chạy đầu này sang đầu nọ để tìm thày học Đạo. Đạo là do nơi cơ thể của con người, chớ không ngoài cơ thể con người.”

“Nói đến Đạo, thì không hành không bao giờ tới”

“Là tự cứu lấy mình, rồi mới  cứu lấy người”.

“Sự tu hiền của mọi loài, nếu không tự cứu lấy mình, thì ai có thể độ được ai”.

“Trước kia ngươi chấp Ta là cư sĩ ngươi không nghe Ta để hành đúng cái lý nhiệm màu. Nhưng đến nay ngươi tỉnh ngộ chịu nghe pháp Ta thì cũng chưa phải là muộn”

“Học là phải TRI NGUYÊN cái chưa biết, chớ không phải học thuộc cái của người ta nói lại. Vì cái người ta nói lại biết đâu có cái sai trong đó. Nếu sai thì chính các ngươi sẽ khổ cả một kiếp con người”.    “Cho nên kiếp sống của con người chỉ vì bắt chước mà không hết cái khổ”.

“Thì các ngươi nhận định qua việc làm chơn chánh, chớ không phải do lời nói, vì lời nói chơn còn chưa phải là chánh, vì cái chơn nói ra đã sắp xếp trước, hàm ẩn trong tâm một ý sắp đặt trước để nói ra cho chơn, thì chưa phải là chơn”

“Như một vị Bác sĩ, kỹ sư, vừa ra trường là phải học tập thêm trong nghề nghiệp mới thành người đầy đủ năng lực. Trái lại ỷ vào bằng cấp mà không lo trau dồi, thì chính người đó chỉ là cái máy để cho các kẻ khác sai khiến mà thôi”.

“Khi phá được cái NGU của mình, thì không còn ai là ngu cả. Vì chưa biết mình là ngu, nên còn tự cao tự đại cho mình là Thánh, còn bao nhiêu kẻ khác là phàm phu tục tử, chính khi đó mình là kẻ NGU ĐỘN nhứt

“Con người lại nắm được cơ hội khó sống kia, mà phát minh ra Trí Huệ. Như vậy mới là con người. Nếu kẻ nào sống bám mãi vào cái không có, thì chính kẻ đó có một bộ óc đần độn. Cái trí đần độn của con người mà có ngày nào đó mở được, thì sự văn minh lại đi đến tột độ”.

“Con người phá vô minh bằng cách không còn nghĩ đến một cái tha lực, mà trước kia, sự tu còn hiểu rằng có kẻ giúp mình. Cái tha lực này do trí phàm phu xuất hiện, để lôi cuốn người này sang người kia. Và vì cái vô minh đó, mà sự tu mãi vẫn là sái. Bởi tu sái mãi mà kiếp trầm luân không dứt…Thì màn hạ ngươn đã sắp đến, con người cũng bắt đầu tự tu, tự giải thoát lấy nghiệp lực của mình”.

“Khi con người đã tỉnh, thì mọi việc dễ dàng. Trái lại nếu con người chưa tỉnh thì dù có hào quang chiếu trước mặt họ cũng không tỉnh”.

“Phá được cái mê, chúng sanh sẽ tiến hóa đến quả vị, không chịu phá cái mê, thì chẳng khi nào đạt được quả vị Bồ tát”.

”Không phải làm ra vẻ trang nghiêm để cho người  ta biết mình là kẻ tu mới là Bồ tát. Mà phải thực tâm làm giúp đỡ người, xã hội mới là Bồ tát”. “Chơn tánh của con người là nét Từ bi, hỷ xả, không cần nói, không cần dấu, cũng thấy được như thường”.

“Vị Bồ tát không cần phải những chuyện cho người ta thấy, khen ngợi mới là Bồ tát.  Thì các ngươi hãy làm, làm mà không thấy việc làm là triệu chứng các ngươi sắp thành Ta”.

Vậy khi con người đủ lý trí rồi, chính là cảnh Thiên đàng mong ước từ lâu đã xuất hiện ra. Do lý trí đó, mà sự TRI nguyên nhân của sự khổ, rất dễ giải.  Không cần giải hay diệt nữa, khi con người đã đủ lý trí”.

“Con người không do bên ngoài, mà BÊN TRONG là cái không tầm thấy được, mới là đạo mầu”.

“Ta TRI NGUYÊN cái biết vô tận vô biên kia để GIẢI ĐỘC cái biết vô minh”. “Nếu các ngươi muốn trở thành Như Lai các ngươi phải thấy BÊN TRONG các ngươi” :

CƠ CHẾ BÍ ẨN CỦA HỆ THẦN KINH:  là bộ máy khử trược lưu thanh dựa theo thói quen của Tâm. Tâm lành thì bộ não phát ra suy nghĩ việc làm lành. Tâm ác thì  bộ não phát ra suy nghĩ ác, việc làm ác. Các thói quen sẽ biến con người thành Phật hay ác quỷ. Nên việc tu tâm là tu sửa các thói quen.

“Trung tâm THẦN KINH HỆ gồm BỘ NÃO, TIỂU NÃO, HÀNH TỦY. Ba cơ quan này có trách nhiệm tẩy não những cái gì uế trược để con người tu chơn thành một vị  thánh nhân. Ba cơ quan này có trách nhiệm thu uế trược để con người tu chơn thành  ngạ quỷ súc sanh, vì kẻ này tu mà còn làm sái.”

“THẦN KINH HỆ có rất nhiều sợi dây cũng như ống nước, mà BỘ ÓC là Trung tâm Thần kinh .

BỘ ÓC có 12 đội, 12 đội này cũng là 12 Thập nhị nhân duyên.

12  nhân duyên nằm ngay tại Trung tâm Thần kinh. 12 đôi này phát sanh ra 12 đôi con…nó sanh ra mãi mãi 12 cái liên tục. Nếu tâm thiện, thì nó sanh việc thiện. Tâm ác thì nó sanh việc ác. Con người sanh ra việc thiện, bởi cái nhân thiện. Sinh ra  việc ác bởi cái nhân ác, và gặt hái những cái quả đó”

“Thập nhị nhân duyên là trụ cốt trong cơ thể con người . Nó ở tại Bộ não, và đi xuống Hành tủy. Nếu tư tưởng lành, thì nó phát sanh ra mỗi tướng đều được tốt, mặt mày phương phi oai nghi, lẫm liệt, tướng này là tướng Bồ tát.

Nếu tư tưởng dơ uế, thì lại sanh ra tướng hung hăng, dữ tợn, đi bậm trợn. Là do Thập nhị nhân duyên, đưa từ Trung tâm Thần kinh chạy dẫn xuống hai tay và hai chơn”.

“Một người chơn tu phát sanh tư tưởng tốt, là do Thập nhị nhân duyên đã chuyển từ xấu ra tốt. Nên tướng bên ngoài ảnh hưởng sự chuyển hướng của người tu, mà sanh ra oai nghi, nói người khác nghe, tin tưởng.

Một người cũng tu, nhưng tu sai, là chuyển thành Thập nhị nhân duyên trật nên phải mang cái tướng hầm hừ, trợn trạo, ăn nói hỗn độn, sân hận, múa tay, múa chân đi mau, bước mạnh, đá chén, ném bát… Một giảng sư nói không hấp dẫn, yếu ớt, than mệt… là do Thập nhị nhân duyên bị chuyển hành trật, đi ngoài cái lý đạo mầu, vọng tâm, phá ngữ chơn”.

“Khi Thập nhị nhơn duyên chuyễn từ phàm sang thánh đầy đủ, thì con người khoẻ mạnh không đau đớn chi nữa”

“Trong NÃO TỦY có thần kinh cách mô, là sợi giây nối liền các dây khác, để giao cảm, như là truyền điện lực từ Trung tâm Thần kinh đến các dây kia. Nếu lành thì nó truyền lành, dữ thì nó truyền dữ. Dây này nếu tư tưởng dữ, thì nó phát sanh ra đấm đá, giết chóc. Bởi sợi dây này, là tay sai của Trung tâm thần kinh hệ vậy.

“Người tu mà không thể hàng phục được cái xấu, thì chính  HÀNH TỦY cũng rước phải tất cả cái gì là uế trược, và không cần lược, mà cho vào và đưa lên Tiểu não, cũng không cần lược đưa thẳng lên Não, và sẽ thành Chánh Quỷ, Chánh Tinh”

“Vậy xin nói rõ, là Trung tâm thần kinh hệ là Chủ nhơn ông của cơ thể, là Tiểu vũ trụ, là con người thật, biết được, hiểu được, thấy được, làm trúng, làm trật, đều là do nơi Trung tâm thần kinh hệ tất cả”.

“Xuyên qua những thời pháp để KHAI MỞ CƠ THỂ, thì có lẽ quý vị đạo tâm đã nhận thức được đâu là lý Siêu thoát”.

“Vì sự sống còn của con người mà phải học tu trong cơ thể con người . Nếu các ngươi NHẬN THỨC BÊN TRONG được, dòm vào cái bên trong, thì cái bên trong là cái mà các ngươi đã tìm, nào là Thầy, nào là Kinh, là Sấm đó”…

Lời  Đức Phật Di Lạc dành cho người đang tu luyện Hà Đào Thành có thể hiểu được, làm được sứ mệnh thiêng liêng:

“Nắm được một cơ hội thuận tiện để giải thoát thì chúng ta thấy rằng sự siêu thoát chắc chắn chúng ta nắm vững vàng trong lòng bàn tay. Thì tại sao chúng ta lại hờ hững, khi ngộ rồi tỉnh, tỉnh rồi ngộ, có phải chăng, là giả mê không?

“Ví bằng lo cho trọn một gia đình Siêu thoát, thì rất dễ dàng, là đã có sẵn con đường Siêu thoát rồi vậy”

“Như thế cuộc là điềm báo trước cho chúng ta thấy có cuộc biến thiên sắp đến, mà con người vẫn mãi lội trong danh lợi và tình. Thì mặc ai lội với bơi, chúng ta kết tinh với nhau để xây đắp một đời mới đầy đủ những kẻ hiền đức”.

“Chúng sanh tưởng là Tu rồi về Niết bàn hưởng tọa cái cảnh tưởng tượng như một bức tranh đẹp. Không dè ta đến với các ngươi để hợp tác với các ngươi lập THIÊN ĐÀNG TẠI THẾ”.

“Tu là phải sống chớ không phải tu là chết để lập Pháp về Niết bàn là những điều mộng mị quá xa vời”

“Đừng nên khinh suất sự thành quả kỳ này, vì kỳ này là kỳ chót. Nếu các ngươi mà không tự tin, tự phá ngã thì cũng tự xuống, tự đọa, tự diệt lấy mình”

“Khi nó quay tại Nê Hườn Cung, là lúc các người đã bắt đầu xuất tánh, là đi ra khỏi nhà lửa của các ngươi, là thân tứ đại. Mãi mãi đi như vậy đến khi nào, tim, gan, phổi, ruột, dạ dày, thận bình được rồi, thì nó bắt đầu chạy ra ngay trán các ngươi. Đó là Huyền quang khiếu của các ngươi sắp mở, và cũng là Lậu Tận Thông cái thông chót của các vị đã thành”.

“Cho nên bần đạo nói với các hàng tu chơn chánh để lo quét dọn cái tâm, mà còn lo gieo giống lành cho Thế giới, để Thế giới tỉnh lại mà lo tu hành, hầu cái quả nghiệp của họ bớt đi, để họ giữ lấy cái xác mà lập đời Thánh Đức cho Quốc gia của họ”.

“Cho nên hàng cư sĩ, là chính các linh căn xuống thế để hòa nhịp thuận với sanh chúng”. “Bần Đạo xin nói với các ngươi rằng, các hàng cư sĩ sẽ lập ra Thánh Đức Kim Thân, với cái khả năng bất khả tính, là mãi mãi cái đạo phi thường trong vòng 5000 năm bước sang cái  Đạo khả Đạo  là Hư không đạo”

“Nhưng cũng đừng ỷ lại vào cái ta của các ngươi, vì biết bao nhiêu kẻ sắp thành Như lai mà phải rớt vì bị Ma khảo. Các ngươi đã qua những giai đoạn, nào là Diệt, nào là Giải, tất cả những cái gì mà các ngươi cho rằng khảo, thì những cái đó các ngươi đã chịu đựng rồi. Thì hôm nay các ngươi sắp thành Như lai các ngươi phải cố gắng lên nữa. Vì ma sẽ đến với vạn hùng binh để khảo các ngươi. Trước kia chúng khảo sơ sơ, bây giờ các ngươi bị tấn công mãnh liệt, nếu các ngươi không Nhẫn thì sẽ rớt xuống đáy biển vô phương vớt lên. Vậy nên các ngươi phải nhẫn, vạn nhẫn cũng chưa thành. Cho nên không còn thấy nhẫn nữa mới là Nhẫn. Phá các sự nghi nghờ, để đi đến cái thấy vô tận vô biên. Ta cũng nhắc lại cho các ngươi biết rằng, cái vô tận vô biên này là cái KHÔNG, mà ta đã giải bày rồi”

“Còn những vị kia thích tạo ra Phước điền để mãi mãi hưởng phú quý vinh hoa, và vì thế vật dụng lôi cuốn họ mãi ở trong hàng Thinh văn Duyên giác. Nếu các ngươi trở lại hạng đó thì TÙY, chớ ta không vì các ngươi mà TÙY theo các ngươi được“

“Nếu con người không theo kịp cái đà tiến của địa cầu, thì cũng là do nghiệp lực của nhơn sanh, chớ không làm sao hiểu được và biết được cái lý nhiệm màu của Tạo Hóa xoay chiều“.

“Ai đã hiểu được cái lý Hạ ngươn, thì nên sớm tỉnh, để cùng nhau hợp tâm phá cái mê cho nhau, bằng cách chỉ cho nhau những lỗi lầm, thì sự tu học mới mau đem lại kết quả. Nhưng kẻ nào tự ái, không nghe, chính kẻ đó tự đưa họ lên cõi mặt trăng”

“Tuần tự hành các pháp, đừng bồn chồn, vì sự bồn chồn đó không lợi ích cho sự thành mà còn có hại nữa là khác”.      

“Vậy BỒ TÁT đừng nản chí vì Trung tâm Thần kinh hệ chưa thông suốt. Khi đã thông suốt rồi thì sẽ là Phật vậy.”

“Thì hãy hành cho kỹ cái nấu bầu âm dương đặng nó chuyển sang Hỏa hầu là ba con rắn nhỏ nó sẽ chạy lên Nê Hườn Cung và chuyển đến Huyền Quang Khiếu”

”Đến khi Hạ ngươn hạ màn thì có hằng hà sa số BỒ TÁT thành Phật, và cũng có hằng hà sa số đạo tràng mở ra để đón tiếp BỒ TÁT. Khi con người đã tỉnh, thì mọi việc dễ dàng. Trái lại nếu con người chưa tỉnh thì dù có hào quang chiếu trước mặt họ cũng không tỉnh”.

“Quý vị Đạo tâm sẽ lên đường vì sứ mệnh cao cả mà từ khi loài người có đến  nay chưa có ai làm được”. “Với cái điện lực chiếu ra bởi Kim thân, con người cõi này sẽ giúp cho muôn  loài của quả địa cầu tiến hoá rất mau chóng”

“Phước thay cho Việt-Nam, là nơi Thánh xuất. Sẽ lập Thánh Đức Kim thân trước. Các vị đạo tâm sẽ đi, đi mãi tận nơi hang cùng ngỏ hẽm, để gieo giống Kim Thân cho vạn dân bá tánh”

 

Loading