BÀI CẤP BA:
KHAI THÔNG KINH MẠCH.
Ngành Đông y chữa bệnh thuận tự nhiên. Bằng cách khai thông ách tắc khí ở kinh mạch huyệt đạo. Nhờ châm cứu, xoa bóp, day bấm huyệt, thảo dược. Phải học nhiều năm mới có thể chữa bệnh. Người bình thường không tự chữa được.
Phương pháp Vô thức đã khai thông kinh mạch bằng phương pháp mới. Phát huy khả năng thiên bẩm đặc biệt của ngón tay chân. Đã tác động vào các điểm tiềm năng ở đầu các ngón tay ngón chân. Thao tác đơn giản mà khai thông cho cả tuyến kinh mạch. Dễ nhớ, dễ thực hành, ai cũng làm được.
Nhìn sâu bằng con mắt Trí Huệ sẽ thấy đầu các ngón tay chân nhỏ bé nhưng hội tụ đầy đủ chức năng của khí, huyết, dây thần kinh, và não bộ. Là vị trí “Đắc địa” nhất, có thể kết nối, tác động vào tất cả các bộ phận cơ thể.
Theo Đông y cổ truyền, đầu ngón tay chân có một đến hai đường kinh mạch chính chạy dọc ngón tay ngón chân. Tổng cộng có 12 cặp kinh mạch chính là 24 đường kinh mạch đi qua 20 ngón tay chân, rồi đi đến các bộ phận cơ thể. Nên đầu ngón tay chân là đầu mối để chúng ta tác động sâu vào các bộ phận : Tim, não, phổi, dạ dày, gan, thận mật, dạ dày, ruột già…
Mỗi đỉnh ngón tay chân liên quan đến não bộ. Mười đỉnh ngón tay gọi là các điểm Thập Tuyên. Mười đỉnh ngón chân gọi là các điểm Khí Đoan. Đây là các điểm phản xạ tương ứng với não bộ. Các đường vân tay thể hiện khả năng hoạt động của não. Ngón tay chân có vai trò của não bộ thứ hai. Là nơi giao thoa đặc biệt giữa vô thức và ý thức. Cho phép ta chủ động điều khiển ngón tay chân kích hoạt bộ máy vô thức. Thúc đẩy hoạt động Vô thức tự chữa lành. Ngón tay đặt chỗ nào, thì chỗ đó được giải độc, và tăng năng lượng. Là trọng tâm của phương pháp Vô thức sử dụng ngón tay chân để giảm đau, điều chỉnh khỏi bệnh thông thường và khỏi một số bệnh nan y mãn tính. Khi mà thuốc không chữa được.
Đỉnh cao và nhọn của ngón tay chân còn tập trung năng lượng như các anten thu phát năng lượng sinh học của các đường kinh mạch chính. Chụm 5 đầu ngón tay đã tập hợp năng lượng của 6 đường kinh mạch: Kinh Phế, kinh Đại tràng, kinh Tâm bào, kinh Tam tiêu, kinh Tâm, kinh Tiểu trường. Để phân phối năng lượng đó đến những nơi đau yếu.
Hai bên dưới gốc móng tay là vị trí đặc biệt, có huyệt đạo đầu tiên của đường kinh mạch. Nơi đây còn tập trung mạng lưới huyết mạch, dây thần kinh dày đặc. Chỉ một động tác đơn giản nắn bóp vào 2 bên dưới gốc móng tay, đã tác động một chuỗi giá trị quan trọng đó, khiến cơ thể chuyển biến rất nhanh.
Như vậy ba vị trí đỉnh ngón và 2 bên dưới gốc móng tay chân, tạo thành một tam giác vàng cho sức khỏe. Tác động đồng thời vào kinh mạch chính, não bộ , khí huyết, thần kinh, năng lượng sinh học, lục phủ ngũ tạng. Bài tập Vô thức chỉ một động tác đơn giản nắn bóp nhẹ nhàng vào tam giác này, có tác dụng như một mũi tên bắn trúng nhiều đích. Ai cũng thực hành được.
Ngón tay chân còn báo động mầm bệnh sớm hơn máy móc. Khi nắn bóp thấy ngón tay chân hơi đau, là tín hiệu kinh mạch ách tắc cần giải trược ngay thì tiêu tan mầm bệnh.
Bài tập Vô thức đã rèn luyện 20 ngón tay chân trở thành 20 vị bác sĩ đa khoa giỏi, hiểu cơ thể hơn thày thuốc bên ngoài. Ngón tay chân trở thành “Chìa khóa khai mở cơ thể” để ta có thể tác động hiệu quả vào bên trong lục phủ ngũ tạng, và gia tăng công suất hoạt động não. Chữa lành một số bệnh nan y.
Ngón tay chân nào cần luyện tập nhiều nhất ?
Ngón chân cái có điểm phản xạ tuyến Yên ở giữa cầu thịt ngón chân cái, ứng với trung tâm não điều khiển hệ thống nội tiết, giữ tính mạng. Thày đặt tên là điểm Trường sinh để luyện tập tuyến Yên, tăng miễn dịch với các bệnh. Chữa suy thoái tuyến Yên, và các bệnh rối loạn chuyển hóa. Gốc ngón chân cái còn có Kinh Can, Tỳ là 2 kinh mạch quan trọng của hệ tiêu hóa.
Ngón tay cái có kinh Phế cung cấp ô xy, giữ tính mạng. Điều hành hoạt động hô hấp, phổi, họng, mũi, xoang mũi.
Vì vậy 2 ngón chân tay cái có vai trò trung tâm khôi phục sức khỏe. Cần luyện tập nhiều nhất. Có ứng dụng cấp cứu khi tính mạng bị uy hiếp.
Tiếp theo là vai trò ngón tay chân út. Ngón tay út có kinh Tâm (tim), và kinh Tiểu trường (ruột non). Điều hòa tim mạch, huyết áp, thu nạp dinh dưỡng trong thực phẩm đưa vào máu.
Ngón chân út có kinh Thận và kinh Bàng quang. Thận có vai trò thanh lọc độc tố cho máu. Nếu suy thận thì toàn cơ thể bị nhiễm độc máu, phải lọc máu nếu không sẽ ảnh hưởng tính mạng. Bảo vệ kinh thận rất quan trọng với sức khỏe.
Như vậy ngón cái, ngón út, và kinh bệnh, là nơi cần tập trung thời gian luyện tập nhiều hơn các ngón khác.
Luyện tập ngón tay chân đã khai thông 12 cặp kinh mạch chính đào thải rất nhiều ô trược. Xem bài Hiện tượng xổ trược. Mỗi đợt xổ trược là mỗi lần được vượt thoát một cảnh nghiệp. Là một dấu mốc thành công trên con đường giải thoát ô trược.
Cách khai thông kinh mạch:
1.Thiền Hà Đào Thành tác dụng giải trược rất mạnh, hiệu quả khai thông kinh mạch. Mỗi đình ngón nắn bóp 45 lần.
2.Thiền kinh mạch một bàn tay 45 phút: Gồm Nắn bóp và Giải trược :
– Nắn bóp: Đặt 2 ngón tay vào 2 bên gốc móng tay có đầu kinh mạch. Một ngón đỡ phía sau. Nắn bóp nhẹ nhàng liên tục 45 lần. Rồi chuyển nắn bóp ngón tay tiếp theo tương tự, làm hết 5 ngón tay. Sau đó giải trược các đầu kinh mạch.
– Giải trược đầu kinh mạch: Đặt 2 ngón tay vào vị trí đầu kinh mạch. Còn ngón tay cái chạm đỉnh ngón. Đặt tay nhẹ nhàng thả lỏng. Giữ yên lặng thiền 2-10 phút. Ô trược bị xoáy rút ra ngoài. Tâm chỉ theo dõi ô trược thoát qua Hà Đào Thành.
Các ngón khác giải trược tương tự như trên.
Thời gian giải trược ngón tay cái 5 phút, ngón tay út 3 phút. Các ngón khác 1- 2 phút. Giải trược hết 5 ngón tay .
Khai thông kinh mạch bàn chân 45 phút: tương tự bàn tay.
Trong đó ngón chân cái giải trược 10 phút, đặt tay vào đỉnh ngón và kinh Can, kinh Tỳ. Sau đó đặt tay vào điểm Trường Sinh.
Ngón chân út giải trược 5 phút vì có kinh Thận rất quan trọng. Giải trược thêm huyệt Dũng Tuyền (chủ của Thận), nằm ở điểm lõm 1/3 bàn chân (xem vị trí huyệt đạo). Kinh Bàng quang chữa đái dầm, đái rắt, tiểu són…
Các ngón khác giải trược 1-2 phút.
Thiền giải trược kinh mạch nào thì mang tên kinh mạch đó. Ví dụ Thiền Trường sinh, thiền kinh Phế, Thiền kinh Tâm….
Cấp cứu: Khi bị kiệt sức, ngạt thở, dịch bệnh, tai nạn, trúng cảm nhập tâm, thì đặt tay Thiền Trường sinh. Thời gian dài đủ phục hồi Nguyên khí, khôi phục hoạt động tuyến Yên. Và dùng tinh bột đạm Địa long để phục hồi tuyến Yên.
Xem sơ đồ vị trí các đầu kinh mạch, ghi nhớ để luyện tập.
4- Điều chỉnh bệnh: Người bệnh nặng yếu sức khỏe, rất nhiều ô trược, cần dành nhiều thời gian tập thêm buổi chiều
– Thiền kinh mạch bệnh từ 1-2h.
– Giải trược vùng đau: Chụm 5 đầu ngón tay đặt vào chỗ đau, viêm sưng, u hạch. Đặt tay nhẹ nhàng, thả lỏng.
Thời gian 30 phút tùy bệnh nặng nhẹ. Sau đó thiền cho thoát hết ô trược qua Hà Đào Thành. Nếu có đá Tesctit thì đặt đá vào chỗ đau để giải âm khí 15 phút.
Những bệnh do vi khuẩn gây ra, phải kết hợp uống thuốc diệt vi khuẩn, chữa các loại viêm.
* Giải nghẽn thở :
Cần kiểm soát hàm lượng oxy bằng máy SPO2 mua ở cửa hàng thuốc (khoảng 500k -700k). Nếu đo oxy dưới 96% là tình trạng báo động cần khắc phục. Bài thể dục Vô thức được tăng oxy sau mỗi buổi tập khiến người nhẹ nhõm dễ chịu. Người bệnh nặng cần tập thể dục 2 buổi sáng và tối
Tùy từng nguyên nhân mà sử lý
– Do tắc kinh Phế, bệnh hô hấp: thiền kinh Phế từ 1h-2h, và giải trược khuỷu tay, cổ tay, sẽ thông thoáng hơi thở.
– Nếu kiệt sức, khó thở, do tổn thất Nguyên khí, cần cấp cứu tuyến Yên, thiền Trường sinh như đã hướng dẫn.
– Do vi khuẩn và hàn khí âm gây bệnh hô hấp, viêm xoang, cảm cúm, viêm họng, viêm phổi, dịch bệnh. Phải dùng thuốc diệt khuẩn. Thuốc Đông Y có thể diệt khuẩn tốt hơn nhưng loại kháng sinh bị kháng thuốc.
– Chữa các bệnh có liên quan thiếu oxy. Như bệnh suy thận, suy tim, suy tuyến Yên. Hoặc dùng nhiều mạng wifi kéo dài quá 2h gây khó thở.
MỘT SỐ VỊ TRÍ KHÁC CẦN GIẢI TRƯỢC:
* Giải trược nách: Cơ thể cất dấu nhiều ô trược ở 2 bên nách (huyệt Cực tuyền), có mùi hôi ở đây. Nên vùng này hay xuất hiện hạch, và u ung thư vú, phổi. giải trược nách, sẽ thấy nhẹ nhõm dễ chịu. Thường xuyên ấn nắn tìm ra chỗ cộm cứng, hoặc hơi đau ở nách, ngực, họng, thì giải trược ngay chỗ đó sẽ tan mầm bệnh ung thư vú, phổi, họng, tuyến giáp.
Nằm trên giường chụm các ngón tay đặt sâu vào nách, thiền giải trược. Và giải trược chỗ đau. Hoặc đặt đá Tesctits vào nách, xung quanh nách.
*Gỉải trược cổ tay, khuỷu tay: Khuỷu tay và cổ tay có 6 kinh mạch chính đi qua. Và nhiều huyệt quan trọng. Thường xuyên giải trược cổ tay khuỷu tay, rất hiệu quả giải nghẽn thở, chữa đau sưng chân, tràn dịch khớp chân tay, và giảm đau bệnh.
Giải trược cổ tay: Nắm nhẹ cổ tay và thiền, ô trược sẽ thoát qua Hà Đào Thành.
Giải trược khuỷu tay: Bàn tay ôm lấy khuỷu tay, và thiền. Các ngón tay chạm lần lượt vào cục xương cùi trỏ, và điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối của đường chỉ khuỷu tay.
Bệnh về mắt: Khi có tuổi mắt bị lão hóa kém thị lực, mắt mờ đục, do ô trược và tình trạng mắt thiếu Nguyên khí.
Giải trược mắt: Chụm các ngón tay đặt vào các vùng xương xung quanh hốc mắt: gò má, trán, các điểm đầu, giữa, cuối của lông mày. Hoặc đặt đá Tectit vào các vị trí đó.
Đó là cách chữa nhanh nhất làm mắt sáng lên, hết sụp mí, không cần đeo kính lão.
THỰC HÀNH BÀI CẤP BA.
– Sáng 4h: Thể dục 60 phút. Thiền Hà Đào Thành 30 phút.
– Tối 8h: Thiền kinh mạch tay phải, tay trái. 90 phút. Thiền Trường sinh 30 phút
Tập luân phiên 2 bàn tay, hôm sau tập hai bàn chân.
Đi ngủ: Nắm nhẹ cổ tay hoặc khuỷu tay, nách. Ngủ ngon.
Bất kể ngày hay đêm thấy ô trược bốc thoát ra, hoặc thấy khó chịu, phải dậy tập thể dục 1h cho ô trược thoát hết.
Người bệnh nặng cần dành nhiều thời gian tập thêm buổi chiều để khai thông kinh mạch bệnh, vùng đau.
Cần phát huy tình thương yêu giúp đỡ người khác đọc sách tự chữa lành, là tự giúp mình rèn luyện Tâm thiện.
Luyện tập 2 -3 năm, thì chuyển bài số 4.
CHÚ Ý NGUYÊN TẮC LUYỆN TẬP BÀI CAO CẤP:
- Tập đến bài nào đọc kỹ bài đó. Tự tập theo sách, video hướng dẫn. Không tập pha trộn bài tập khác.
- Cải tạo nòi giống: Thanh niên nam nữ luyện tập giải trược, trứng và tinh trùng sạch, thì sinh con khỏe mạnh thông minh, cha mẹ được hưởng phước báu.
3- Không đặt tay chữa bệnh cho người khác, trừ trường hợp cấp cứu. Giúp mọi người đọc sách tự giác luyện tập giải nghiệp mới là Tình thương cao cả nhất
Người bệnh tim mạch, huyết khối, xơ vữa động mạch, ban đầu chỉ tập ít, rồi tăng dần. Dùng thêm tinh bột đạm Địa long sẽ tan huyết khối, lưu thông máu.
Chúng tôi không đảm bảo 100% khỏi hết bệnh, vì tùy thuộc tâm thức người tập có tinh tấn giải nghiệp hay không. “Nếu ai không thành chí học tập thì cũng hoại như hiện nay con người đang hoại và sắp hoại”.
Vị trí 6 đầu kinh mạch ở hai bên gốc móng chân, cần học thuộc
- Kinh Tỳ: Chuyển hóa thức ăn, tạo khí huyết. Chữa tụy, dạ dày, đường ruột. Nối với kinh Vị, Tâm
- Kinh Can: Chủ tiêu hóa, bài tiết, cung cấp máu huyết, thúc đẩy khí. Chữa bệnh về gan, máu huyết, mật, ung thư, táo bón, da, mắt. Thông Kinh Đởm, Vị
- Kinh Vị: Chủ về tiêu hóa. Chữa bệnh dạ dày, tiêu hóa. Nối với kinh Tiểu trường, Đại trường, Tỳ
- Kinh Đởm: Tạo tinh chất mật, dũng khí, bản lĩnh. Chữa bệnh về mật, tiêu hóa. Nối với kinh Can.
- Kinh Thận: Chủ về bài tiết, sinh dục, tủy, sinh tạo tủy não, xương, trí thông minh. Chữa Thận, sinh dục, huyết áp cao, mắt, não, tủy, xương khớp, răng lợi. Nối Kinh Phế, Can, Bàng quang, Tâm bào.
- Kinh Bàng quang: Bài tiết nước tiểu. Chữa bệnh ở bàng quang, tiền liệt, tiểu tiện. Nối với thận.

Vị trí 6 đầu kinh mạch ở hai bên gốc móng tay, cần học thuộc
- Kinh Phế: Chủ hô hấp và khí, da. Chữa bệnh ở phổi, ngực, họng, da. Thông Đại trường, Vị, Can.
- Kinh Đại trường: Chủ về bài tiết, dinh dưỡng. Chữa bệnh ở ruột già, trĩ, táo bón, bài tiết. Nối Phế.
- Kinh Tâm bào: Bảo vệ kinh Tâm. Chữa bệnh ở Tim, thần kinh thực vật. Chữa bệnh âm. Nối Tam tiêu.
- Kinh Tam tiêu: Kinh bảo vệ phía ngoài các tạng phủ. Chữa bệnh ở tim, ngực, bụng, tai. Nối Tâm bào.
- Kinh Tâm: chủ về tim, huyết mạch. Bệnh ở Tim, ngực, thần kinh, huyết áp. Nối thông Tiểu trường.
- Kinh Tiểu trường: Tiêu hóa, hấp thụ tinh chất thức ăn. Bệnh ở ruột non, tiêu hóa. Nối Kinh Tâm

ĐOÀN THANH HƯƠNG.
NHÀ LỬA Ô TRƯỢC
Trích bài giảng của Đức Phật Di lạc, bằng Thông thiên học qua một người ở miền nam Việt Nam
thế kỷ trước, năm 1951-1952.
Ngày rằm tháng riêng- Nhâm Thìn. 20 giờ -24 giờ.
Nam mô chúng sanh Phật.
Con người mãi trầm mình trong bể lửa. Nhưng có ai biết mình đang bị nóng. Vì sức nóng đang thiêu đốt kia, nó không phải như lửa của thế gian. Nó từ từ cháy, nó cháy đến khi con người thấy được nó, tức là sự khổ, mà hiểu được sự khổ, là con người như điên, như dại. Không còn lương tri nữa.
Khi con người lãnh được những bản án của thế gian ban cho, nào là nghiệp vợ, nghiệp chồng, nghiệp con… cái gì mà loài người cho là sướng chính đó chính là nhà lửa. Nhưng có mấy ai đã hiểu được cái nhà lửa đó đang cháy ngấm ngầm. Rồi một ngày nào kia, nhờ ngọn đông phong, sẽ phất lên, và nó sẽ phừng lên. Khi đó ngọn lửa hồng bắt lên và than, bụi, bay lên nghi ngút. Chừng đó con người, mới biết là nhà của mình cháy. Phải chi lửa còn ngún, thì lo chữa đi, có đâu nhà bị cháy.
Dù là kiếp sống đó, nó phải chăng là vô ý thức của sự sống, con người lại nắm được cơ hội khó sống kia, mà phát minh ra Trí Huệ. Như vậy mới là con người, nếu kẻ nào sống bám mãi cái có, thì chính kẻ đó có một bộ óc đần độn.
Cái trí đần độn của con người, mà có ngày nào đó nó mở được, thì sự văn minh lại đi đến tột độ…
Như vậy, buổi hạ ngươn hạ màn thì con người lại bắt đầu tiến hoá theo Thánh Đức, phá vô minh bằng cách không còn nghĩ đến một cái tha lực, mà trước kia, sự tu còn hiểu rằng có kẻ giúp mình. Cái tha lực này do trí phàm phu xuất hiện, để lôi cuốn người này sang người kia. Và vì cái vô minh đó, mà sự tu mãi vẫn là sái. Bởi tu sái mãi mà kiếp trầm luân không dứt được.
Thì màn hạ ngươn đã sắp đến, con người cũng bắt đầu tự tu, tự giải thoát lấy nghiệp lực của mình.
Vậy, buổi Hạ ngươn, bần đạo xin nói với các người rằng, các hàng cư sĩ sẽ ra lập Thánh Đức Kim Thân với cái khả năng bất khả tính, là mãi mãi cái đạo phi thường trong vòng 5000 năm, để rồi bước sang cái Đạo khả đạo là Hư không đạo.
Ai đã hiểu được cái lý Hạ ngươn, thì nên sớm tỉnh, để cùng nhau hợp tâm phá cái mê cho nhau, bằng cách chỉ cho nhau những lổi lầm, thì sự tu học mới mau đem lại kết quả. Nhưng kẻ nào tự ái, không nghe, chính kẻ đó tự đưa họ lên cõi mặt trăng vậy.
NGŨ TRƯỢC LÀ GÌ ?
Minh-Đức. Chuyên gia Phật học.
Chú đang muốn nói về Ngũ Trược, nhưng lại thấy e ngại, bởi vì chủ đề này là cơ bản của Phật Học. Cái e ngại là vì Ngũ Trược là vấn nạn lớn lắm ! Không phải dễ trình bày, nhưng nói nôm na thì ai cũng biết. Biết mà không giải nạn được thì cũng như không biết. Giống như người ta biết rượu, ma túy và sắc dục là nguy hiểm và rất tai hại, nhưng đã té ngã vào đó rồi thì dù biết là có hại cũng không ra được. Không ra được thì biết cũng như không ! Người Phật giáo nào mà không biết Ngũ Trược là cỏi sống của mình, nhưng nhận thức đúng và tu giải thoát được cái ách nạn của Ngũ Trược thì mới thật là Phật tử. Bằng không thì xưng là Phật tử mà thật sự chỉ là đứa con bỏ đi hoang và lang thang lận đận trong Ngũ Trược chứ chưa trở về nhận gia tài của cha là ông trưởng giả giàu có vô lượng. Người còn sống trong “Ngũ Trược” mà thấy cha mình là đức Như Lai thì bỏ chạy và kinh sợ vùng vẩy chứ không dám đến gần, bởi vì thân tâm hạ liệt, đã quen với sự mê mờ trong Ngũ Trược, nên biết cũng như không. Giống cái anh ghiền ma túy, biết rất rỏ hơn ai hết về khổ nạn của mình mà không chịu từ bỏ, vì cái thói quen đã là chính mình rồi, còn đâu mà bỏ được. Cũng như vậy, ai cũng biết ngũ trược là ác thế mà không thể thoát ra. Nếu trình bày vấn nạn cơ bản này thì rất khó khăn, vì chính người trình bày cũng là người của ngũ trược, chưa giải ngộ được thân phận của mình.
Nói đơn giản thì Ngũ Trược là năm cái : Kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược và phiền nảo trược. Năm cái khổ trược này chính là Nghiệp báo của chúng sanh cỏi Ta-Bà. Chử Ta Bà có nghĩa là kham nhẫn chịu đựng, chúng sanh cỏi Ta bà thì rất cứng đầu và kham nhẩn chịu đựng Ngũ Trược. Bởi vì đây chính là Nghiệp báo của chúng sanh. Nghiệp báo là gì ? Chính là Y-Báo và Chánh báo. Y-báo là thế giới, chánh báo là căn thân. Có Y-Báo là có Chánh báo như thân phận của cá và nước. Con cá và nước chính là Y-báo và Chánh báo. Gọi chung lại là Nghiệp báo. Mà Ngũ Trược chính là Nghiệp Báo của chúng sanh. Thái tử Sỷ Đạt Ta sanh ra ở vị trí thái tử mà vẫn không bị ngũ dục tuyệt vời của một kiếp người mơ ước, làm cái lồng giam nhốt. Lịch sử chứng minh đâu có ông thái tử nào mà lại không chịu làm Vua đâu ? Chỉ có Phật thị hiện mới làm nổi cái vùng vẩy để thoát ra ngũ dục.
Nhận thấy cái thân phận khổ đau của cái Nghiệp báo, nên phải chịu cái khổ nạn của ngũ trược ác thế, mà thái tử đã lên đường và đạt đạo giải thoát khỏi ngũ trược ác thế. Vì vậy, ở kinh A-Di-Đà, chư Phật mười phương tán dương công đức của Đức A-Di Đà thành đạo của nước Cực Lạc ở phương Tây, mà cũng tán dương Đức Thích ca đã thành đạo ngay nơi cõi ngũ trược ác thế. Tịnh Độ phương Tây của đức A-di-đà là trang nghiêm bởi các thiện nhân và cỏi nước thanh tịnh. Còn cỏi Ta Bà là uế độ với ác nhân có cỏi nước là uế độ, vì là 5 trược có : Kiếp số ngắn ngủi bất tịnh. Kiến giải ô trược do cái thấy ô trược. Chúng sanh nhơ uế bất tịnh nên gọi là chúng sanh trược. Mạng trược thì do chúng sanh ăn nuốt nhau mà sống, và Phiền nảo trược là do chúng sanh chấp ngã nên sanh khởi tham sân si mạn nghi phiền nảo. Ngay nơi Ngũ Trược thống khổ mà thành đạo nên được chư Phật mười phương tán thán ca ngợi.
Nói tóm lại, Ngũ Trược chính là cái Nghiệp báo của chúng sanh, căn thân và thế giới chính là Nghiệp báo. Chánh báo thế nào thì Y báo thế đó giống như cá và nước, nếu nước ô trược thì cá khốn khổ, nếu cá ô trược thì cũng làm nước ô trược. Cá lăn đùng ra chết thì nước cũng bẩn thỉu vì cá. Cái vòng luẩn quẩn luân hồi của ác nghiệp là vô cùng tận, vì cái vô cùng tận này mà Bồ Tát Địa tạng phải phát nguyện vô cùng tận. Chỉ có bồ tát mới kham nhẩn nổi, còn chúng sanh của ngũ trược ác thế thì chỉ như người hôn mê. Chú ví mình cũng như bợm nhậu chưa bỏ được rượu mà khuyên người bỏ rượu thì đó là chuyện tiếu lâm hài hước. Vì vậy còn đang e ngại chưa biết có nên nói hay không cái đề tài “Ngũ Trược” thì đột nhiên Tammydan hỏi, như vậy đúng là duyên lành, giúp cho mình liều lỉnh nói ra cái mà mình còn đang lâm nạn. Tuy nhiên đây chỉ mới là định nghĩa còn nhiều thiếu sót lắm. Đây là đề tài lớn mà mình chưa thể nói nhiều hơn đâu. Tạm bỏ qua ở đây vậy…
![]()
